Thứ sáu, 25/03/2022 15:48

Cải cách kinh tế nhằm bảo hộ sở hữu trí tuệ hiệu quả trong bối cảnh hội nhập kinh tế và chuyển đổi số ở Việt Nam

Trong khung khổ Chương trình Australia hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam (Aus4Reform), ngày 24/03/2022, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) đã tổ chức hội thảo công bố báo cáo “Cải cách kinh tế nhằm bảo hộ sở hữu trí tuệ (SHTT) hiệu quả trong bối cảnh hội nhập kinh tế và chuyển đổi số ở Việt Nam”. Hội thảo được tổ chức theo hình thức kết hợp trực tiếp với trực tuyến. TS Trần Thị Hồng Minh - Viện trưởng CIEM chủ trì Hội thảo.

Hoàn thiện khung pháp lý cho việc thương mại hóa các sản phẩm khoa học và công nghệ (KH&CN)

Báo cáo “Cải cách kinh tế nhằm bảo hộ sở hữu trí tuệ hiệu quả trong bối cảnh hội nhập kinh tế và chuyển đổi số ở Việt Nam” được thực hiện nhằm: (i) Nghiên cứu, cập nhật những quy định về bảo hộ SHTT ở Việt Nam; (ii) Rà soát, phân tích các nội dung cam kết trực tiếp về SHTT trong một số điều ước quốc tế của Việt Nam, mà trọng tâm là các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới; (iii) Phân tích yêu cầu hoàn thiện quy định về bảo hộ SHTT ở Việt Nam nhằm hỗ trợ chuyển đổi số; (iv) Phân tích một số thách thức đối với yêu cầu sửa đổi các quy định về bảo hộ SHTT phù hợp với các cam kết quốc tế; và (v) Kiến nghị một số định hướng đổi mới kinh tế (bao gồm cả thể chế kinh tế và hệ thống chính sách, pháp luật) nhằm tăng cường bảo hộ SHTT gắn với bối cảnh hội nhập kinh tế và chuyển đổi số ở Việt Nam.

Trong những năm qua, các thảo luận chính sách đã tập trung nhiều hơn vào rủi ro “bẫy thu nhập trung bình” của Việt Nam. Để xử lý có hiệu quả rủi ro này, một định hướng quan trọng là thúc đẩy đổi mới sáng tạo gắn với cải thiện năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực trong nền kinh tế. Định hướng này càng cấp bách hơn trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang chuyển biến nhanh trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là gắn với chuyển đổi số. Theo đó, vai trò của nâng cao năng lực KH&CN nói chung và năng lực nghiên cứu và triển khai nói riêng ngày càng được đề cao. Các giải pháp cả về phía cầu và phía cung đều đã được cân nhắc, triển khai và cập nhật nhằm thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ ở Việt Nam. Trong đó, bảo hộ SHTT được coi là một trụ cột quan trọng nhằm phát huy quyền tài sản từ hoạt động nghiên cứu, cũng như góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho việc thương mại hóa các sản phẩm KH&CN.

TS Trần Thị Hồng Minh - Viện trưởng CIEM phát biểu tại Hội thảo (ảnh: CIEM).

Phát biểu tại Hội thảo, TS Trần Thị Hồng Minh khẳng định, việc sửa đổi, bổ sung pháp luật về sở hữu trí tuệ (SHTT) không chỉ có ý nghĩa đối với hội nhập quốc tế mà còn đối với công cuộc chuyển đổi số của đất nước. Kết quả Báo cáo là sự nỗ lực của nhóm nghiên cứu với sự phối hợp, góp ý, tham vấn của các chuyên gia đến từ các bộ, ban, ngành. Việt Nam đang đứng trước rất nhiều những thách thức. Các mô hình kinh tế dựa trên lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên đang dần mất lợi thế cạnh tranh, nguy cơ mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình và nguy cơ già hóa dân số đòi hỏi phải đẩy nhanh việc tìm kiếm mô hình tăng trưởng mới cho nền kinh tế. Bối cảnh đó yêu cầu Việt Nam phải phát huy đổi mới sáng tạo, tăng cường ứng dụng KH&CN để tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế và tăng năng suất lao động. Để đạt được điều đó, cần phải có những nỗ lực nhằm tăng cường ý thức và hiệu lực bảo vệ SHTT của cả các cơ quan Chính phủ, doanh nghiệp và người dân.

Yêu cầu đối với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT

Báo cáo “Cải cách kinh tế nhằm bảo hộ SHTT hiệu quả trong bối cảnh hội nhập kinh tế và chuyển đổi số ở Việt Nam” nêu rõ, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung 92 điều, trong đó bổ sung 12 điều, sửa đổi 80 điều, nâng tổng số điều của Luật SHTT sau khi sửa đổi lên 234 điều, thuộc 7 nhóm Chính sách đã được Quốc hội thông qua. Các chính sách này được xây dựng nhằm mục tiêu thể chế hóa chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 11- NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó một trong những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu là hoàn thiện thể chế về SHTT theo hướng khuyến khích sáng tạo, bảo đảm tính minh bạch và độ tin cậy cao; quyền SHTT được bảo vệ và thực thi hiệu quả. Theo đó, mục tiêu của việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn qua 15 năm thi hành, xử lý các bất cập, vướng mắc của hệ thống SHTT hiện hành; thể chế hóa, nội luật hóa các cam kết quốc tế, tạo khuôn khổ pháp lý cụ thể cho hoạt động SHTT của Việt Nam; bảo đảm tính ổn định, thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống pháp luật SHTT phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng.

Để đạt được các mục tiêu như đã đặt ra ở trên, báo cáo cho rằng, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT tập trung vào các nhóm chính sách lớn. Các nhóm chính sách này có tác động đến quan điểm, cách tiếp cận và hướng xử lý đối với cả hệ thống SHTT, bắt đầu từ các khâu sáng tạo, xác lập quyền, bảo hộ quyền, khai thác và thực thi quyền SHTT. Trong mỗi nhóm chính sách sẽ lại có những vấn đề bất cập của các đối tượng quyền SHTT khác nhau (quyền tác giả - QTG, quyền liên quan - QLQ, quyền sở hữu công nghiệp - SHCN, quyền đối với giống cây trồng - GCT) tại các công đoạn khác nhau, các điều khoản liên quan và phương hướng xử lý các bất cập này, cụ thể như sau: (i) Cần quy định rõ về tác giả, chủ sở hữu QTG, người biểu diễn, chủ sở hữu QLQ trong các trường hợp chuyển nhượng, chuyển giao QTG, QLQ; (ii) Khuyến khích tạo ra, khai thác và phổ biến sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra từ NSNN; (iii) Tạo thuận lợi cho quá trình thực hiện thủ tục đăng ký QTG, QLQ, thủ tục xác lập quyền SHCN; (iv) Đảm bảo mức độ bảo hộ thỏa đáng và cân bằng trong bảo hộ quyền SHTT; (v) Tăng cường hiệu quả hoạt động hỗ trợ về SHTT; (vi) Nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ quyền SHTT; (vii) Bảo đảm thi hành đầy đủ và nghiêm túc các cam kết quốc tế của Việt Nam về bảo hộ SHTT trong quá trình hội nhập.

Kiến nghị chính sách

Thay mặt nhóm Nghiên cứu, ông Nguyễn Anh Dương - Trưởng Ban Nghiên cứu tổng hợp (CIEM) trình bày các kết quả nghiên cứu của Báo cáo “Cải cách kinh tế nhằm bảo hộ SHTT hiệu quả trong bối cảnh hội nhập kinh tế và chuyển đổi số ở Việt Nam. Ông Dương cho biết, báo cáo đã rà soát các quy định về SHTT trong các cam kết quốc tế và văn bản pháp luật của Việt Nam. Các quy định hiện hành của Việt Nam đã cơ bản phù hợp với các quy định về thực thi quyền SHTT theo các điều ước quốc tế. Qua quá trình khảo sát cho thấy, khối doanh nghiệp, các trường đại học và viện nghiên cứu chưa quan tâm đúng mức tới việc thi hành Luật SHTT. Về xử lý các tranh chấp phát sinh đối với quyền SHTT, nhiều vụ việc đã được xử phạt hành chính nhưng số tiền xử phạt tương đối thấp và chưa đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm luật SHTT…

Ông Nguyễn Anh Dương - Trưởng Ban Nghiên cứu tổng hợp (CIEM) trình bày các kết quả nghiên cứu của Báo cáo (ảnh: CIEM).

Để cải thiện chất lượng của hệ thống SHTT tại Việt Nam, báo cáo đưa ra 4 nhóm kiến nghị chính sách đối với sửa đổi, bổ sung Luật SHTT. Thứ nhất, cách tiếp cận đối với việc sửa đổi, bổ sung Luật SHTT cần hướng tới nội luật hóa sớm hơn và cao hơn so với các cam kết quốc tế để tạo động lực cho doanh nghiệp và thích ứng với môi trường chuyển đổi số; thứ hai, cần nâng cao năng lực và ý thức bảo hộ SHTTcho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân (đặc biệt là các doanh nghiệp, cá nhân ở nước ngoài); thứ ba, cần vận dụng cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến trong việc xử lý dân sự các tranh chấp liên quan đến quyền SHTT để giảm chi phí cho doanh nghiệp và cá nhân; thứ tư, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong quản lý SHTT và tính đến khả năng hợp nhất một số cơ quan quản lý SHTT, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan này.

Cũng theo ông Nguyễn Anh Dương, mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm các nước dẫn đầu ASEAN về trình độ sáng tạo, bảo hộ và khai thác quyền SHTT; tài sản trí tuệ mới của cá nhân, tổ chức Việt Nam gia tăng cả về số lượng và chất lượng, cải thiện vượt bậc các chỉ số về SHTT của Việt Nam trong Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu; hiệu quả sử dụng quyền SHTT được nâng cao và gia tăng đáng kể số lượng sản phẩm có hàm lượng SHTT cao…

Tại Hội thảo, các chuyên gia và đại biểu cũng đã trao đổi những nội dung, quy định, chính sách, định hướng cụ thể giúp xác định cho việc sửa đổi, bổ sung Luật SHTT nhằm bảo đảm phù hợp với thông lệ, cam kết quốc tế và hỗ trợ quá trình chuyển đổi số của Việt Nam và các hướng nghiên cứu tiếp theo về hoàn thiện pháp luật về SHTT ở Việt Nam trong thời gian tới.

Vũ Hưng

 

 

 

 

Đánh giá

X
(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)