Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - Động lực cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới
Chiều 2/3, tại buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương về xây dựng Nghị quyết thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới, Tổng Bí thư Tô Lâm đã đưa ra nhiều định hướng quan trọng, mang tính chiến lược và dài hạn cho sự phát triển của đất nước đến năm 2045.
Khẩn trương hoàn thiện nền tảng cho một Nghị quyết chiến lược
Báo cáo tại buổi làm việc, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho biết đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương để kiện toàn Ban Chỉ đạo và Tổ biên tập; đồng thời ban hành hướng dẫn để các Tỉnh ủy, Thành ủy xây dựng kịch bản tăng trưởng, đề xuất chương trình hành động và danh mục dự án trọng điểm nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030, hướng tới duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững đến năm 2045.

Song song với đó, nhiều diễn đàn, hội thảo chuyên sâu đã được tổ chức nhằm thu thập ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước; tham khảo kinh nghiệm quốc tế cũng như thực tiễn từ các địa phương để hoàn thiện dự thảo Nghị quyết.
Dự thảo bước đầu xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu. Trọng tâm là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; phát triển các lĩnh vực kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn - những trụ cột của phương thức sản xuất hiện đại.
Trong cấu trúc mới, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tiên phong và dẫn dắt; kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất; thị trường trong nước và xuất khẩu tạo thành “động lực kép”. Toàn bộ quá trình vận hành dựa trên nền tảng Nhà nước kiến tạo phát triển với thể chế hiện đại và văn hóa đổi mới sáng tạo.
“Bản thiết kế tổng thể” cho tăng trưởng dài hạn
Phát biểu chỉ đạo, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh Nghị quyết không chỉ nhằm đạt một chỉ tiêu tăng trưởng, mà phải trở thành “bản thiết kế tổng thể” cho mô hình phát triển của Việt Nam đến năm 2045. Đây là lựa chọn có tính lịch sử, thể hiện khát vọng vươn lên mạnh mẽ của dân tộc.
Tuy nhiên, tăng trưởng cao không đồng nghĩa với phát triển bằng mọi giá. Yêu cầu đặt ra là tăng trưởng phải ổn định, có chất lượng, bao trùm, xanh và tự chủ. Không được đánh đổi ổn định vĩ mô, môi trường và tiến bộ xã hội để lấy con số tăng trưởng ngắn hạn.
Theo Tổng Bí thư, Nghị quyết phải thể hiện rõ ba tầng ý nghĩa.
Thứ nhất, khẳng định quyết tâm chính trị cao, kiên định mục tiêu trước mọi khó khăn.
Thứ hai, bảo đảm chất lượng tăng trưởng, không chạy theo thành tích.
Thứ ba, có tầm nhìn dài hạn, bảo đảm tăng trưởng hôm nay không làm suy yếu nền tảng phát triển ngày mai.
Quá trình triển khai cần có lộ trình phù hợp quy luật khách quan của kinh tế, trong đó giai đoạn đầu tập trung tạo nền tảng thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực để chuẩn bị cho tăng trưởng hai con số bền vững trong dài hạn.
Nghị quyết phải trở thành kim chỉ nam thống nhất nhận thức và hành động của toàn hệ thống chính trị, bảo đảm triển khai đồng bộ, hiệu quả và nhất quán từ Trung ương đến địa phương.
Một trong những định hướng quan trọng được nhấn mạnh là xác lập mô hình tăng trưởng mới không chỉ dừng ở điều chỉnh chính sách, mà phải thay đổi căn bản cấu trúc động lực - tức là “động cơ” của nền kinh tế. Đây là bước chuyển mang tính hệ thống, đòi hỏi thay đổi đồng bộ từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo; từ mô hình dựa vào vốn, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên sang mô hình dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Sự chuyển đổi này phải diễn ra xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, từ khu vực công đến khu vực tư nhân, hình thành nền kinh tế hiện đại, năng suất cao và có khả năng cạnh tranh toàn cầu.
Đồng thời, tăng trưởng không thể tách rời các mục tiêu phát triển bền vững. Tăng trưởng phải đi đôi với nâng cao thu nhập, tạo việc làm, giảm chênh lệch giàu nghèo, bảo vệ môi trường và phát triển văn hóa - xã hội. Phát triển kinh tế phải gắn chặt với nâng cao chất lượng sống của người dân.
Tăng trưởng từ 10% trở lên là mục tiêu đầy thách thức, vì vậy cần có cơ sở tính toán cụ thể và kịch bản khả thi. Tổng Bí thư yêu cầu làm rõ các nguồn lực huy động, bao gồm tiết kiệm nội địa, FDI, thị trường vốn; đồng thời xác định rõ các ngưỡng an toàn vĩ mô.
Nguyên tắc hạch toán kinh tế và phân bổ nguồn lực theo hiệu quả phải được quán triệt nghiêm túc. Mọi nguồn lực - từ ngân sách, đất đai, tài nguyên, tín dụng đến tài sản công - phải được tính đúng, tính đủ, phân bổ theo hiệu quả và chịu trách nhiệm giải trình.
Bên cạnh đó, cần chủ động quản trị rủi ro, bảo đảm nền kinh tế có khả năng chống chịu trước biến động toàn cầu. Mọi quyết định phát triển phải được cân nhắc trong tương quan giữa cơ hội và rủi ro.
Kỷ luật thực thi là yếu tố then chốt. Tăng trưởng hai con số chỉ có thể đạt được khi có lãnh đạo vững chắc, quản trị hiệu quả, phân cấp rõ ràng và môi trường minh bạch, liêm chính. Phải chuyển từ “đúng về chủ trương” sang “đúng và hiệu quả trong hành động”, đề cao trách nhiệm người đứng đầu và quản lý theo kết quả đầu ra.
Khoa học công nghệ và chuyển đổi số - Động lực trung tâm
Tổng Bí thư nhấn mạnh, để hiện thực hóa mục tiêu chiến lược, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành trụ cột trung tâm của mô hình tăng trưởng mới. Điều đó đòi hỏi: Hoàn thiện thể chế khuyến khích nghiên cứu - phát triển; xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; phát triển hạ tầng số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo; tăng cường liên kết giữa Nhà nước - doanh nghiệp - viện nghiên cứu - trường đại học để thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Cải cách thể chế phải thực chất và triệt để, biến thể chế thành lợi thế cạnh tranh quốc gia. Hệ thống pháp luật cần rõ ràng, ổn định và bảo đảm tính pháp quyền cao. Đội ngũ cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu, phải có tầm nhìn, năng lực và sự chính trực.
Ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết. Cần kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, phát triển hạ tầng chiến lược và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tiến trình công nghiệp hóa phải được tái định hình theo hướng công nghệ cao, sản xuất thông minh, kinh tế số. Cấu trúc kinh tế phải nâng cấp theo chiều sâu, làm chủ công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thị trường trong nước với hơn 100 triệu dân cần trở thành trụ cột bền vững của tăng trưởng. Phát triển đồng bộ các loại thị trường, nâng cao thu nhập, thúc đẩy tiêu dùng hiện đại, khuyến khích đầu tư tư nhân và phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công.
Cấu trúc kinh tế giữa khu vực nhà nước, tư nhân và FDI phải dựa trên cạnh tranh bình đẳng và liên kết chuỗi giá trị, tạo hiệu ứng cộng hưởng và nâng cao tính tự chủ.
Không gian phát triển quốc gia cần tổ chức lại theo hướng liên kết vùng thực chất, tập trung nguồn lực cho các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, trung tâm tài chính và đổi mới sáng tạo; khai thác hiệu quả không gian biển, đô thị và kinh tế số.

Tổng Bí thư cũng nhấn mạnh, mọi mục tiêu phát triển phải đặt trong tổng thể bảo đảm quốc phòng - an ninh, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường. Không đánh đổi ổn định, công bằng và chủ quyền lấy tăng trưởng đơn thuần. Chỉ khi phát triển dựa trên nền tảng bền vững, đất nước mới có thể tích lũy tiềm lực lâu dài, tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển mới.
Mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên không chỉ là bài toán kinh tế, mà là khát vọng chính trị và xã hội. Để đạt được, cần tạo chuyển biến căn bản về tư duy phát triển trong toàn hệ thống. Phải xóa bỏ tâm lý an toàn, tư duy nhiệm kỳ, cách làm cục bộ; thay vào đó là tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và hành động quyết liệt, đồng bộ.
Khi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực trung tâm; khi thể chế trở thành lợi thế; khi nguồn lực được phân bổ theo hiệu quả và kỷ luật thực thi được bảo đảm; khi niềm tin xã hội được củng cố - mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ không còn là khát vọng xa vời mà trở thành kết quả tất yếu của một chiến lược phát triển đúng đắn.
Đó chính là con đường để Việt Nam bứt phá, hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, tự chủ và thịnh vượng./.
