Giải bài toán thực tế đời sống là đích đến cuối cùng của đổi mới sáng tạo
Đổi mới sáng tạo phải hướng tới sứ mệnh đưa công nghệ vào đời sống, với điểm xuất phát là các bài toán thực tiễn.
Nỗ lực trong kiến tạo thể chế, định hướng chính sách ĐMST
Trong khuôn khổ Lễ hưởng ứng Ngày Sáng tạo và Đổi mới sáng tạo (ĐMST) thế giới 21/4/2026 do Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tổ chức, Diễn đàn phát triển hệ thống trung tâm ĐMST đã diễn ra với sự tham dự của các đại biểu đến từ cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp (DN), các viện nghiên cứu và trường đại học (ĐH).
Diễn đàn tập trung thảo luận sâu về những cơ chế, chính sách mang tính đòn bẩy, trong đó nhấn mạnh cần chuyển các chủ trương thành những hoạt động thực chất, lấy lợi ích cộng đồng và sự phát triển kinh tế làm thước đo hiệu quả cao nhất.
Theo đó, chính sách đối với ĐMST tại Việt Nam đang ngày càng được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, minh bạch và hiệu quả hơn.
Một dấu mốc quan trọng là Luật Khoa học, Công nghệ (KHCN) và ĐMST (số 93/2025/QH15), có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Theo Cục trưởng Cục ĐMST Nguyễn Mai Dương, đây là lần đầu tiên khái niệm “đổi mới sáng tạo” được thể chế hóa ở cấp luật, đặt ngang hàng với KH&CN, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho các hoạt động thực thi.
Sự đồng bộ này còn lan tỏa sang các pháp luật chuyên ngành khác như Luật Thuế thu nhập DN, Luật Đất đai và Luật Giáo dục ĐH, tạo nên một hệ thống đòn bẩy đa chiều cho các nhà sáng tạo.

Theo Cục trưởng Nguyễn Mai Dương, song hành với thể chế là câu chuyện về nguồn lực tài chính. Hiện nay, phân bổ ngân sách cho lĩnh vực này đã chiếm khoảng 30-40% trong tổng ngân sách dành cho KHCN và ĐMST. Đáng chú ý, cơ cấu đầu tư đang dịch chuyển mạnh mẽ theo hướng lấy DN làm trung tâm. Mục tiêu đặt ra là tỷ lệ vốn đối ứng từ khu vực tư nhân phải đạt từ 70% đến 90%.
Những định hướng này, kết hợp cùng kế hoạch tổng thể giai đoạn 2026-2030, được kỳ vọng sẽ tạo ra những hành động đột phá, đưa kết quả nghiên cứu lan tỏa sâu rộng trên phạm vi cả nước.
Kiện toàn mạng lưới liên kết vùng qua các trung tâm đổi mới sáng tạo địa phương
Tại Việt Nam, hệ thống các trung tâm ĐMST đã phát triển nhanh, bước đầu hình thành mạng lưới hỗ trợ trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, hiện nay, các trung tâm mới được thành lập, quy mô còn nhỏ so với quốc tế; hoạt động còn phân tán, mức độ gắn kết giữa các chủ thể chưa cao.
Một số trung tâm chủ yếu mới dừng ở hỗ trợ khởi nghiệp, lập nghiệp, chưa phát triển mạnh các hoạt động thúc đẩy tăng trưởng và thương mại hóa công nghệ. Đồng thời, số lượng DN chủ động hình thành trung tâm ĐMST còn hạn chế. Khoảng trống lớn hiện nay là thiếu một cơ chế điều phối hiệu quả để kết nối nguồn lực và tạo tác động quy mô lớn.
Nhận diện những thách thức trên, Phó Giám đốc Trung tâm ĐMST Quốc Gia (NIC) Võ Xuân Hoài đề xuất: Hệ thống trung tâm ĐMST nên được thiết kế với kiến trúc đa tầng - phân vai rõ ràng theo 4 khu vực: quốc gia, Bộ/ngành, địa phương, viện trường/ĐH và DN). Đồng thời, việc chuyển đổi từ mô hình vận hành phân tán sang một mạng lưới thống nhất sẽ giúp tối ưu hóa hạ tầng và dữ liệu dùng chung.

Đặc biệt, ông Võ Xuân Hoài khẳng định vai trò then chốt của hệ sinh thái ĐMST tại địa phương, nơi trực tiếp đối mặt với các bài toán phát triển cụ thể. Theo đó, việc xây dựng trung tâm ĐMST cần xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của địa phương thay vì từ điều kiện hạ tầng sẵn có, tránh chạy theo số đông và chỉ mang tính trình diễn.
Mỗi địa phương cần xác định rõ định hướng phát triển, lựa chọn một số ngành hoặc lĩnh vực ưu tiên cùng các “bài toán lớn” cần giải quyết, từ đó thiết kế mô hình trung tâm phù hợp với điều kiện cụ thể.
Các mô hình tổ chức có thể đa dạng, từ đơn vị sự nghiệp công lập đóng vai trò điều phối và triển khai chính sách, đến mô hình hợp tác công - tư nhằm huy động nguồn lực xã hội, hoặc mô hình do DN dẫn dắt, gắn chặt với nhu cầu thị trường.
Cùng với việc định hình mô hình tổ chức, việc xây dựng đội ngũ vận hành chuyên nghiệp và tăng cường kết nối với hệ sinh thái ĐMST quốc gia cũng được xem là điều kiện thiết yếu.
Đổi mới sáng tạo bắt đầu từ thị trường
Ở góc độ DN và tổ chức trung gian, theo TS. Trần Quang Hưng, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Trung tâm ĐMST Hà Nội, thách thức lớn nhất không chỉ nằm ở vốn hay công nghệ mà nằm ở sự thay đổi tư duy.
TS. Trần Quang Hưng nhận định các chủ thể cần thực hiện bước chuyển mình mạnh mẽ từ tư duy của một “nhà nghiên cứu” thuần túy sang tư duy của một “nhà đổi mới”, và xa hơn là một “doanh nhân”.

Trong lộ trình này, yếu tố then chốt là phải xác định được ai là người mua đầu tiên và ai là người sử dụng đầu tiên của sản phẩm. Khi và chỉ khi chứng minh được nhu cầu thực sự của thị trường, nhà sáng tạo mới có đủ cơ sở để thuyết phục và thu hút các nhà đầu tư rót vốn.
Với tầm nhìn trở thành thiết chế điều phối chiến lược đặt tại thủ đô Hà Nội, đại diện đơn vị này đã phác thảo lộ trình phát triển gồm 4 giai đoạn:
Giai đoạn khởi đầu tập trung vào xây dựng cộng đồng, kết nối bài toán thị trường thông qua các cuộc thi, hoạt động hackathon và đặc biệt là các phiên kết nối (matching) giữa bên có “đề bài” là các cơ quan nhà nước, tập đoàn và bên có “lời giải” là các cá nhân, đơn vị năng lực.
Giai đoạn thứ hai hướng tới nghiên cứu và phát triển dựa trên nền tảng dùng chung, nơi cung cấp không gian làm việc, dữ liệu mở và các nguồn lực hỗ trợ kỹ thuật thiết yếu.
Giai đoạn thứ ba tập trung vào hỗ trợ khởi nghiệp và hoàn thiện nền tảng pháp lý, cung cấp các dịch vụ tư vấn chuyên sâu về sở hữu trí tuệ (SHTT), quản trị bộ máy và kết nối nguồn vốn mồi.
Giai đoạn cuối là thương mại hóa và tăng trưởng, đưa sản phẩm đến tay người dùng cuối thông qua các chiến lược tiếp cận thị trường bài bản, tận dụng cơ chế sandbox và thúc đẩy kết nối kinh doanh quốc tế.
Viện, trường vượt qua khoảng đứt gãy
PGS. TS. Lâm Quang Vinh, Trưởng Ban KH&CN, ĐH Quốc gia TP.HCM chỉ ra sự tồn tại của “thung lũng chết” như một khoảng đứt gãy mang tính hệ thống giữa kết quả nghiên cứu và quá trình thương mại hóa.
Khoảng trống này được cấu thành bởi nhiều lớp rào cản: thiếu hạ tầng để thử nghiệm và hoàn thiện ý tưởng, rủi ro tài chính đi kèm với thiếu nguồn vốn phù hợp, những điểm nghẽn thể chế liên quan đến SHTT, cũng như sự thiếu hụt cơ chế thử nghiệm linh hoạt như "sandbox" cho công nghệ mới.
Quan trọng hơn, cần thiết lập một cơ chế phân bổ rủi ro và chia sẻ lợi nhuận minh bạch giữa Nhà nước - nhà trường - tác giả/DN, nhằm tạo động lực dài hạn cho các chủ thể tham gia.

Trên nền tảng cải cách đó, PGS.TS. Lâm Quang Vinh đề xuất việc kiến tạo các đặc khu sandbox công nghệ như một giải pháp mang tính đột phá. Cụ thể, mô hình khu vực thử nghiệm có kiểm soát (sandbox zone) được định hướng đặt liền kề khu đô thị ĐH Quốc gia TP.HCM, cho phép triển khai các không gian thử nghiệm chuyên biệt như khu kiểm thử (test) phương tiện bay không người lái (UAV) hay phòng thí nghiệm bán dẫn.
Cuối cùng, để giải quyết bài toán nguồn lực tài chính, PGS. TS. Lâm Vinh khuyến nghị áp dụng mô hình dòng vốn linh hoạt (agile funding). Cách tiếp cận này cho phép phân bổ nguồn lực theo hướng thích ứng, chấp nhận rủi ro có kiểm soát và tập trung vào kết quả đầu ra, qua đó tạo điều kiện cho các ý tưởng công nghệ có tiềm năng được nuôi dưỡng và phát triển đến giai đoạn thương mại hóa.

Như vậy, có thể thấy một sự thống nhất cao của các đại biểu về việc hiện thực hóa các chủ trương phát triển KH&CN. Để ĐMST không còn là một khẩu hiệu xa vời, điều cốt lõi không chỉ nằm ở số lượng nguồn lực hay độ tinh vi của cơ chế, mà trước hết nằm ở khả năng nhận diện đúng những vấn đề trong xã hội. Việc đặt ra những bài toán đúng và trúng từ thực tiễn chính là kim chỉ nam cho mọi hoạt động nghiên cứu và phát triển.
Điều này phản ánh sự quán triệt sâu sắc định hướng của Bộ KH&CN trong giai đoạn mới, đó là khoa học phải gắn liền với thực tiễn, lấy sự hài lòng và chất lượng cuộc sống của người dân làm trung tâm.
Khi tư duy “xuất phát từ vấn đề thực tiễn” trở thành ý thức hệ chung của toàn bộ hệ sinh thái, các giải pháp ĐMST Việt Nam sẽ không chỉ giải quyết được các bài toán trong nước mà còn tự tin vươn tầm ra thị trường quốc tế, tạo ra những giá trị bền vững cho kinh tế và xã hội./.
