Chính sách và quản lý

Đề xuất hệ sinh thái hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu cho các nhà khoa học nữ Việt Nam

ThS. Lê Thị Khánh Vân - Giám đốc Trung tâm Ứng dụng KHCN và Khởi nghiệp, Hội Nữ trí thức Việt Nam

24/06/2026 16:02

Trung tâm Ứng dụng KHCN và Khởi nghiệp (COSTAS) thuộc Hội Nữ trí thức Việt Nam đề xuất mô hình Hệ sinh thái thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học dành cho các nhà khoa học nữ Việt Nam.

nhà khoa học nữ
Cộng đồng nữ trí thức chiếm 46% tổng số nhân lực nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam. (Ảnh: Tạp chí Doanh nghiệp & Đầu tư).

Nữ trí thức - Nguồn lực cho đổi mới sáng tạo

Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) quốc gia xác định tầm nhìn đến năm 2045 cho thấy KHCN là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Theo đó, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của Việt Nam trong chiến lược phát triển vươn mình. Trong đó, năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức, đặc biệt là lực lượng nữ trí thức, đã và đang giữ vai trò then chốt trong thúc đẩy KHCN và ĐMST.

Cộng đồng nữ trí thức Việt Nam là một bộ phận tinh hoa của phụ nữ Việt Nam, chiếm 46% tổng số nhân lực nghiên cứu và phát triển (R&D). Họ hiện diện trong mọi thành phần kinh tế và trên khắp mọi miền đất nước, đóng góp những công trình khoa học có giá trị cả về lý luận và thực tiễn sâu rộng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

Những kết quả nghiên cứu, sáng kiến khoa học của những nữ trí thức đã được thương mại hóa thành công, mang lại lợi ích kinh tế hàng tỷ đồng cho đất nước, có thể kể đến giống lúa năng suất cao của Anh hùng Lao động PGS. TS. Nguyễn Thị Trâm hay các sản phẩm sơn của PGS. TS. Nguyễn Thị Hòe, Chủ tịch Tập đoàn Sơn Kova.

Những rào cản trên hành trình ra thị trường

Tuy nhiên, do đặc thù giới với “vai trò kép” giữa công việc chuyên môn và trách nhiệm gia đình, nhiều bằng sáng chế, giải pháp hữu ích, kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH) dù đã thành công trong phòng thí nghiệm nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thương mại hóa và ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống.

Trong quá trình này, các nhà khoa học nữ rất vất vả tìm đối tác hợp tác phát triển hoặc nhận chuyển giao kết quả NCKH. Không ít nhà khoa học nữ còn lúng túng khi thiếu thông tin, thiếu đầu mối kết nối và chưa biết bắt đầu từ đâu để tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ.

Bên cạnh đó, khả năng huy động vốn, thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu còn hạn chế; sự liên kết giữa các chủ thể trong hệ sinh thái ĐMST chưa chặt chẽ, khiến tiềm năng của nhiều kết quả nghiên cứu chưa được khai thác hiệu quả.

Ở chiều ngược lại, nhiều nữ doanh nhân có nhu cầu hợp tác với các nhà khoa học uy tín nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và xây dựng bộ phận R&D cho doanh nghiệp (DN). Tuy nhiên, họ cũng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm đối tác phù hợp, đồng thời chưa có cơ chế hiệu quả để xây dựng niềm tin và mối quan hệ hợp tác cùng có lợi giữa DN và giới khoa học.

Theo số liệu tổng hợp từ cơ sở dữ liệu kết quả nghiên cứu KHCN của Cục Thông tin, Thống kê (Bộ KH&CN), các đề tài nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung về chính sách thương mại hóa, hoạt động xúc tiến thương mại hóa và hỗ trợ thương mại hóa đối với những kết quả nghiên cứu cụ thể. Trong khi đó, chưa có đề tài hay dự án nào nghiên cứu một cách hệ thống về hệ sinh thái hỗ trợ thương mại hóa kết quả NCKH, có khả năng triển khai và ứng dụng trực tiếp trong thực tiễn.

Trên thực tế, mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy ĐMST và khởi nghiệp, tiêu biểu là Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” theo Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/05/2016, song Đề án này chủ yếu tập trung cho các DN khởi nghiệp, cơ chế chưa đồng bộ, quy trình thủ tục hành chính còn rườm rà.

Đặc biệt, đến nay vẫn chưa hình thành một mô hình hệ sinh thái chuyên biệt nhằm hỗ trợ các nữ trí thức kết nối nguồn lực, tiếp cận thị trường và thương mại hóa kết quả NCKH.

Đề xuất hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện

Trước bối cảnh này, Trung tâm Ứng dụng KHCN và Khởi nghiệp (COSTAS) thuộc Hội Nữ trí thức Việt Nam đề xuất Mô hình Hệ sinh thái thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, bao gồm 5 nhóm nhân tố chính liên kết chặt chẽ.

Mô hình hệ sinh thái (
Cấu trúc của Hệ sinh thái theo các thành phần chính.

Quá trình thương mại hóa: Các hoạt động hỗ trợ chuyên biệt cho nữ trí thức

Mô hình hệ sinh thái của COSTAS cần tập trung vào một quy trình thương mại hóa có tính cá nhân hóa cao cho các dự án do nữ trí thức dẫn dắt:

Thứ nhất, hoạt động đánh giá và bảo hộ (Protecting & Assessing) tập trung vào việc xác định tiềm năng thương mại hóa của các kết quả nghiên cứu.

Ở đây, các nhà khoa học nữ được hỗ trợ đánh giá mức độ sẵn sàng công nghệ (technology readiness level - TRL) nhằm xác định lộ trình phát triển phù hợp trước khi đưa sản phẩm ra thị trường.

Đồng thời, hệ sinh thái cung cấp các chương trình tư vấn chuyên sâu về SHTT, hỗ trợ đăng ký sáng chế, nhãn hiệu và các hình thức bảo hộ khác. Thông qua đó, nữ trí thức có thể nhận diện đầy đủ giá trị tài sản trí tuệ của mình, đồng thời giảm thiểu các rủi ro pháp lý trong quá trình thương mại hóa.

Thứ hai, hoạt động ươm tạo và phát triển (Incubating & Validating) hướng đến việc chuyển hóa các kết quả nghiên cứu thành sản phẩm và mô hình kinh doanh khả thi.

Các nhà khoa học nữ được hỗ trợ xây dựng mô hình kinh doanh và sản phẩm mẫu có thể kiểm chứng trên thị trường (minimum viable product - MVP).

Bên cạnh đó, các chương trình đào tạo, cố vấn được thiết kế linh hoạt theo hình thức trực tuyến hoặc kèm cặp cá nhân để giải quyết khó khăn “vai trò kép” của nữ giới, tập trung vào nâng cao kỹ năng quản lý thời gian, lãnh đạo và đàm phán thương mại.

Thứ ba, hoạt động kết nối và huy động vốn (Connecting & Funding) đóng vai trò cầu nối giữa nhà khoa học với DN và các tổ chức tài chính.

Hệ sinh thái tổ chức các hoạt động kết nối cung - cầu công nghệ dưới hình thức các phiên gặp gỡ chuyên đề hoặc chương trình “Business Matching” quy mô nhỏ, tập trung và hiệu quả để các nhà khoa học nữ trực tiếp gặp gỡ DN có nhu cầu chuyển giao.

Đồng thời, các dự án có tiềm năng được hỗ trợ tiếp cận các quỹ đầu tư khởi nghiệp và nguồn vốn từ các tổ chức tài chính ưu tiên hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp.

Thứ tư, hoạt động xúc tiến và mở rộng thị trường (Scaling & Promoting) nhằm gia tăng khả năng tiếp cận khách hàng và nâng cao giá trị thương mại của các sản phẩm KHCN.

Hoạt động này bao gồm việc xây dựng và vận hành các sàn giao dịch công nghệ theo cả hình thức trực tiếp tại Văn phòng của COSTAS và trực tuyến tại sàn giao dịch chuyên biệt như: website tiếng Việt www.sanphamkhoahoc.vn và tiếng Anh www.scienceproducts.vn của COSTAS để trưng bày và bán các sản phẩm KHCN.

Cùng với đó, hệ sinh thái tích cực đẩy mạnh truyền thông các câu chuyện thành công của các nhà khoa học nữ đã khởi nghiệp thành công trên các phương tiện đại chúng để truyền cảm hứng và thu hút sự quan tâm của thị trường.

Vai trò của COSTAS trong mô hình

Dưới sự dẫn dắt của COSTAS, đơn vị đóng vai trò là “người gieo hạt” và “nhà điều phối” với các nhiệm vụ được thúc đẩy, gồm:

Thứ nhất, sàng lọc nguồn cung: Đảm bảo các công trình nghiên cứu được thương mại hóa có chất lượng và phù hợp với quy mô tiếp nhận của DN Việt Nam.

Thứ hai, xây dựng mạng lưới chuyên gia: Tập hợp các chuyên gia tư vấn (chuyên gia công nghệ, luật sư về SHTT, chuyên gia tài chính, quản lý DN) trong Chi hội Nữ Trí thức để hỗ trợ tư vấn 1-1 cho các dự án.

Thứ ba, thúc đẩy hợp tác nước ngoài: Tận dụng mối quan hệ quốc tế và các Văn phòng đại diện KH&CN ở các quốc gia trên thế giới để giới thiệu các sản phẩm của nữ trí thức ra thị trường quốc tế và mang công nghệ tiên tiến về nước.

Lê Thị Khánh Vân
ThS. Lê Thị Khánh Vân, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng KHCN và Khởi nghiệp, Hội Nữ trí thức Việt Nam. (Ảnh: Trường Hóa và Khoa học sự sống, Đại học Bách Khoa Hà Nội).

Hiện nay, COSTAS đã và đang hỗ trợ cho các nhà khoa học nữ theo phương thức trên. Tuy nhiên, để triển khai thực hiện các hoạt động trên một cách hiệu quả, bài bản và có khả năng lan tỏa tới đội ngũ nữ trí thức, nhà khoa học trong cả nước, mô hình hệ sinh thái này rất cần Bộ KH&CN quan tâm hỗ trợ phát triển thông qua các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng trong nước và hợp tác với nước ngoài./.

Nổi bật
    Mới nhất
    Đề xuất hệ sinh thái hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu cho các nhà khoa học nữ Việt Nam