Truyền thông

Vĩnh Long: Ứng dụng KH&CN phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững

QA - Hạnh Tâm 15/09/2026 10:34

Từ những mô hình lúa-tôm, nuôi tôm càng xanh toàn đực đến nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh, việc ứng dụng khoa học và công nghệ đang tạo chuyển biến tích cực trong sản xuất thủy sản tại Vĩnh Long. Không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm, các mô hình còn mở ra hướng sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân.

155a.jpg
Sản xuất lúa-tôm giúp người dân tăng doanh thu, giảm chi phí trong chăm sóc, bảo vệ lúa (Ảnh minh họa: BĐ).

Từ thay đổi phương thức sản xuất

Nuôi trồng thủy sản được tỉnh Vĩnh Long xác định là một trong những ngành sản xuất chủ lực nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên của địa phương. Trong định hướng phát triển, tỉnh chú trọng đưa khoa học, công nghệ vào sản xuất, từng bước chuyển từ phương thức nuôi truyền thống sang các mô hình có năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao hơn.

Thực hiện Chương trình Nông thôn miền núi giai đoạn 2016-2025 [1], Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tỉnh Vĩnh Long đã triển khai 13 nhiệm vụ. Trong số đó, các dự án thuộc lĩnh vực nuôi trồng thủy sản đã tạo được những kết quả đáng ghi nhận, nhất là trong việc tiếp nhận, làm chủ và chuyển giao các quy trình kỹ thuật phù hợp với điều kiện sản xuất của địa phương.

Điểm đáng chú ý là các dự án (bao gồm các dự án triển khai tại tỉnh Bến Tre, Trà Vinh trước đây nay là tỉnh Vĩnh Long) không dừng ở việc đưa công nghệ về địa phương mà hướng tới giúp người dân trực tiếp tiếp cận, làm chủ quy trình và ứng dụng vào sản xuất. Qua đó, KH&CN từng bước trở thành công cụ nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm rủi ro và thích ứng với những thay đổi của môi trường sản xuất.

Một trong những mô hình tiêu biểu là dự án “Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và xây dựng mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực xen lúa và luân canh tôm sú sinh thái tại tỉnh Bến Tre” [2] (nay là tỉnh Vĩnh Long). Thay vì sản xuất riêng lẻ, mô hình kết hợp giữa nuôi tôm và trồng lúa đã tạo ra sự tương hỗ trong quá trình canh tác. Từ khâu thiết kế ruộng nuôi, cải tạo, xử lý và cấp nước đến lựa chọn con giống, chăm sóc và sử dụng thức ăn đều được thực hiện theo quy trình kỹ thuật.

Đáng chú ý, tôm càng xanh toàn đực có tốc độ sinh trưởng nhanh, trong khi các giống lúa được lựa chọn có khả năng chịu mặn và chịu phèn tốt. Sự kết hợp này không chỉ tạo ra sản phẩm mà còn góp phần khai thác hiệu quả điều kiện đất đai, nguồn nước và thích ứng với môi trường sản xuất có biến động về độ mặn.

Kết quả thực tế cho thấy mô hình đã vượt nhiều chỉ tiêu đề ra. Năng suất tôm càng xanh, tôm sú đạt mức cao. Để hỗ trợ người dân làm chủ công nghệ, dự án đã đào tạo 10 kỹ thuật viên; hỗ trợ con giống tôm càng xanh toàn đực, con giống tôm sú, lúa giống và thức ăn cho tôm.

Hai quy trình nuôi tôm càng xanh toàn đực xen canh ruộng lúa và nuôi tôm sú sinh thái luân canh lúa cũng được chuyển giao. Đồng thời, mô hình ứng dụng 2-3 giống lúa có khả năng chịu mặn, chịu phèn tốt, hướng tới sản xuất lúa sạch.

Từ hiệu quả của mô hình, có thể thấy tôm - lúa không chỉ là giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất mà còn phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hóa an toàn, chất lượng cao. Đây là cơ sở để hình thành những sản phẩm đặc trưng, từng bước xây dựng thương hiệu và nâng cao giá trị sản phẩm và sinh kế cho người dân.

Làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm càng xanh toàn đực

Cùng với đổi mới quy trình nuôi, chủ động nguồn giống chất lượng cũng là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả của ngành thủy sản.

Dự án “Tiếp nhận và ứng dụng công nghệ vi phẫu sản xuất giống tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Trà Vinh” [2] đã đưa công nghệ sinh học vào sản xuất giống, tạo ra nguồn tôm càng xanh toàn đực phục vụ nhu cầu nuôi thương phẩm. Đây là một bước tiến trong ứng dụng công nghệ sinh học vào lĩnh vực thủy sản.

So với tôm cái, tôm càng xanh đực có kích thước lớn và tốc độ tăng trưởng nhanh hơn trong cùng thời gian nuôi. Vì vậy, việc chủ động nguồn giống toàn đực giúp nâng cao năng suất, chất lượng tôm thương phẩm và hiệu quả kinh tế.

Khi nguồn giống được chủ động, người dân có thêm điều kiện phát triển mô hình nuôi luân canh tôm càng xanh với tôm sú tại vùng nước lợ. Cách làm này góp phần giảm rủi ro dịch bệnh, đồng thời tận dụng thời gian nuôi trái vụ để tăng thu nhập và tạo thêm việc làm.

Quan trọng hơn, dự án đã giúp cán bộ kỹ thuật tại địa phương tiếp cận công nghệ mới, từng bước nâng cao năng lực tiếp nhận, làm chủ và ứng dụng quy trình kỹ thuật vào sản xuất.

Nuôi tôm siêu thâm canh theo hướng ít thay nước

Trong xu hướng phát triển ngành tôm hiện đại, kiểm soát môi trường và hạn chế dịch bệnh ngày càng trở thành yêu cầu quan trọng. Dự án “Ứng dụng tiến bộ KH&CN xây dựng mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh 2 giai đoạn ít thay nước theo công nghệ Trúc Anh tại tỉnh Bến Tre” (nay là tỉnh Vĩnh Long) [3] đã chuyển giao thành công quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh hai giai đoạn ít thay nước và đánh giá sự phù hợp với điều kiện địa phương. Đây là quy trình nuôi tôm ứng dụng công nghệ sinh học và vi sinh do Công ty TNHH Công nghệ Sinh học Trúc Anh phát triển [3].

Hệ thống ao nuôi tôm thẻ chân trắng được xây dựng phục vụ mô hình nuôi tôm thương phẩm theo quy trình mới. Bên cạnh đó, dự án đào tạo 10 kỹ thuật viên có khả năng nắm bắt quy trình kỹ thuật để hướng dẫn người nuôi và tổ chức tập huấn cho 150 lượt nông dân.

Ưu điểm của mô hình là các yếu tố môi trường được kiểm soát chặt chẽ theo hướng sinh học. Qua đó, giảm nguy cơ phát sinh dịch bệnh, hạn chế việc thay nước và hướng tới quy trình sản xuất an toàn, bảo đảm vệ sinh thực phẩm.

Hiệu quả kinh tế cũng là một điểm nổi bật. Một số mô hình nuôi tôm thẻ siêu thâm canh ứng dụng công nghệ cao đạt lợi nhuận mức cao, cho thấy dư địa lớn trong việc nâng cao giá trị sản xuất thông qua ứng dụng KH&CN.

Đây cũng là minh chứng cho sự chuyển dịch trong tư duy sản xuất: từ mục tiêu gia tăng sản lượng sang nâng cao giá trị gia tăng, kiểm soát chất lượng và tối ưu hóa hiệu quả trên cùng một đơn vị diện tích.

Thích ứng biến đổi khí hậu từ mương vườn dừa

Không chỉ tập trung vào các mô hình nuôi thâm canh, việc lựa chọn đối tượng nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên cũng được chú trọng. Dự án “Ứng dụng tiến bộ KH&CN nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii De Man, 1879) thích ứng với biến đổi khí hậu trong mương vườn dừa ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long” [2] (nay thuộc một số xã Trà Ôn, xã Lục Sĩ Thành, xã Trà Côn, xã Vĩnh Xuân, xã Hòa Bình và xã Ngãi Tứ) đã mở ra hướng tận dụng diện tích mương trong các vườn dừa để phát triển thủy sản.

Dự án đã hỗ trợ tiếp nhận quy trình kỹ thuật ươm giống và nuôi tôm càng xanh thương phẩm trong mương vườn dừa. Sáu quy trình công nghệ được chuyển giao, gồm: thiết kế và cải tạo hệ thống nuôi; ương giống; nuôi tôm thương phẩm; sử dụng thức ăn; quản lý chất lượng nước; kỹ thuật phòng và trị bệnh.

Tại các xã triển khai dự án, 45 điểm mô hình đã được xây dựng. Cùng với đó, 9 cán bộ cơ sở được đào tạo kỹ thuật và 210 nông dân được tập huấn [2], nâng cao khả năng tham gia xây dựng, vận hành và quản lý mô hình.

Việc kết hợp sản xuất tôm với hệ thống vườn dừa giúp tận dụng hiệu quả diện tích đất, đa dạng hóa sinh kế và tạo thêm nguồn thu cho người dân. Đồng thời, đây là hướng sản xuất có ý nghĩa trong bối cảnh ngành nông nghiệp phải thích ứng ngày càng tốt hơn với biến đổi khí hậu.

Khoa học, công nghệ tạo động lực mới cho ngành thủy sản

Những kết quả từ các dự án KH&CN đang góp phần tạo nền tảng để ngành thủy sản Vĩnh Long chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, trong 5 tháng đầu năm 2026, nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá, dù chịu tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, chi phí vật tư đầu vào tăng và thị trường tiêu thụ còn nhiều biến động.

Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu phát triển thủy sản với diện tích nuôi 92.420 ha, sản lượng 684.504 tấn. Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ứng dụng công nghệ cao được kỳ vọng đạt 8.040 ha, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 3,23% [4].

Trong chuyến khảo sát một số mô hình nuôi tôm công nghệ cao tại phường Trường Long Hòa và xã Long Thành tháng 6/2026, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long - Châu Văn Hòa đánh giá hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tiếp tục phát triển bền vững. Một số mô hình ứng dụng công nghệ cao và liên kết sản xuất đã bước đầu phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất và giá trị sản phẩm.

Tuy nhiên, theo ông Châu Văn Hòa, để ngành thủy sản phát triển bền vững, việc mở rộng vùng nuôi cần được triển khai đồng bộ với đầu tư hạ tầng và nâng cao năng lực quản lý. Đặc biệt, chuyển giao khoa học kỹ thuật, tập huấn và tuyên truyền cần tiếp tục được đẩy mạnh để người dân thay đổi tư duy sản xuất, tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị và chủ động đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Từ thực tiễn triển khai các dự án có thể thấy, KH&CN đang tạo ra những thay đổi quan trọng trong ngành thủy sản tỉnh Vĩnh Long. Giá trị của các dự án không chỉ nằm ở những con số về năng suất hay sản lượng, mà còn ở việc hình thành phương thức sản xuất mới, giúp người dân chủ động hơn trước rủi ro môi trường, dịch bệnh và biến đổi khí hậu./.

Tài liệu tham khảo

[1] Chính phủ (2015), Quyết định số 1747/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2025.

[2] Sở KH&CN tỉnh Vĩnh Long (2026), Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình miền núi giai đoạn 2016 - 2025.

[3] Trúc Anh Biotech, trucanh.com.vn, truy cập ngày 24/8/2026.

[4] Thanh Thư (2026), Vĩnh Long định hướng phát triển vùng nuôi thủy sản công nghệ cao, https://tintuc.vinhlong.gov.vn/ xem-chi-tiet-tin-tuc/id/309897, truy cập ngày 24/8/2026./.

Nổi bật
    Mới nhất
    Vĩnh Long: Ứng dụng KH&CN phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững