Khoa học - Công nghệ

Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam thúc đẩy đưa nghiên cứu y dược vào đời sống

Lê Hạnh 19/09/2026 08:06

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đang mở rộng liên kết với doanh nghiệp, bệnh viện và cơ sở đào tạo trong lĩnh vực y dược, hướng tới hình thành chuỗi từ nghiên cứu, phát triển công nghệ, thử nghiệm, đào tạo đến sản xuất và thương mại hóa, qua đó đưa tiến bộ khoa học đến gần hơn với người dân.

Kết nối nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn

Ngày 18/9/2026, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Việt Nam ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược với Công ty Cổ phần (CP) Dược phẩm Bến Tre, Trường Đại học (ĐH) Quang Trung, Công ty CP Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Huế và Bệnh viện Việt Mỹ Phú Yên - Công ty CP Xuất nhập khẩu Dược Phú Yên.

437-202609181627591.jpg
Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược.

Lễ ký không chỉ mở thêm các mối quan hệ hợp tác giữa một tổ chức nghiên cứu với doanh nghiệp (DN), bệnh viện và trường ĐH, mà còn đặt ra yêu cầu quan trọng hơn: làm thế nào để kết quả nghiên cứu khoa học có thể đi ra khỏi phòng thí nghiệm, được hoàn thiện thành công nghệ, sản phẩm, dịch vụ và cuối cùng tạo ra giá trị thiết thực cho xã hội.

Đây cũng là hướng tiếp cận ngày càng quan trọng đối với hoạt động KH&CN, khi hiệu quả của nghiên cứu không chỉ được nhìn nhận qua số lượng công trình công bố mà còn qua khả năng giải quyết những vấn đề thực tiễn.

Phát biểu tại sự kiện, GS. TS Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, nhấn mạnh hợp tác giữa các bên cần vượt qua việc đơn thuần kết nối nguồn lực. Các bài toán đặt ra từ DN, bệnh viện và nhu cầu của xã hội cần trở thành động lực cho nghiên cứu; đồng thời kết quả nghiên cứu phải được đưa gần hơn với thực tiễn.

437-202609181627592.jpg
GS.TS Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam cùng các đối tác thực hiện nghi thức kích hoạt hợp tác chiến lược.

Cách tiếp cận này tạo ra mối liên kết hai chiều. Một phía là nguồn tri thức, công nghệ và năng lực nghiên cứu; phía còn lại là những nhu cầu cụ thể của sản xuất, khám chữa bệnh, đào tạo và chăm sóc sức khỏe (CSSK). Khi hai nguồn lực được kết nối, nghiên cứu có thêm địa chỉ ứng dụng, còn DN và cơ sở y tế có thêm cơ hội tiếp cận các giải pháp dựa trên nền tảng khoa học.

Hình thành chuỗi từ phòng thí nghiệm đến sản phẩm

Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam hiện có 25 đơn vị trực thuộc, trong đó gồm 13 viện và trung tâm nghiên cứu chuyên ngành, cùng hai cơ sở đào tạo là Học viện KH&CN và ĐH KH&CN Hà Nội.

Hằng năm, các nhà khoa học của Viện công bố hơn 2.000 bài báo trên các tạp chí khoa học quốc tế và được cấp hơn 100 văn bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích. Những con số này cho thấy nguồn lực nghiên cứu là một trong những nền tảng quan trọng để hình thành các liên kết mới với doanh nghiệp và các đơn vị sử dụng công nghệ.

Tuy nhiên, từ một kết quả nghiên cứu đến một sản phẩm phục vụ đời sống thường cần nhiều bước tiếp theo. Công nghệ cần được thử nghiệm, đánh giá, hoàn thiện; nhân lực phải được đào tạo; sản phẩm cần được sản xuất ở quy mô phù hợp và có cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ, chuyển giao, thương mại hóa.

437-202609181627593.jpg
Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Chu Hoàng Hà phát biểu tại Lễ ký kết.

Theo GS. TS. Chu Hoàng Hà, Viện Hàn lâm có điều kiện phối hợp với các đối tác theo chuỗi này, từ nghiên cứu, phát triển công nghệ, thử nghiệm, đánh giá, đào tạo nhân lực đến sản xuất và thương mại hóa.

Nếu được tổ chức hiệu quả, mô hình liên kết này có thể rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng. Nhà khoa học có thêm điều kiện tiếp nhận những yêu cầu cụ thể từ thực tế; DN có thể tham gia từ sớm vào quá trình phát triển công nghệ; bệnh viện đóng vai trò kết nối với nhu cầu CSSK; còn cơ sở đào tạo tham gia cung cấp nguồn nhân lực cho cả nghiên cứu và sản xuất.

Quan trọng hơn, người hưởng lợi cuối cùng của chuỗi liên kết là xã hội, khi các kết quả nghiên cứu có cơ hội được chuyển thành những sản phẩm, giải pháp có khả năng ứng dụng trong CSSK.

Y dược là lĩnh vực cần sự kết nối đa ngành

Trong lĩnh vực y dược, nhu cầu đưa KH&CN vào thực tiễn càng rõ nét bởi quá trình phát triển sản phẩm không thể chỉ dựa vào một lĩnh vực nghiên cứu riêng lẻ. Các hướng hợp tác được đặt ra tại lễ ký gồm công nghệ sinh học, dược liệu, hợp chất có nguồn gốc tự nhiên, hóa dược, công nghệ y sinh, thực phẩm và các sản phẩm CSSK.

Đây đều là những lĩnh vực có sự giao thoa giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, công nghệ sản xuất và nhu cầu thị trường. Một kết quả nghiên cứu về hoạt chất, chẳng hạn, muốn trở thành sản phẩm cần tiếp tục trải qua quá trình nghiên cứu, đánh giá, chuẩn hóa, phát triển công nghệ và tổ chức sản xuất phù hợp.

Đối với Việt Nam, nguồn tài nguyên dược liệu phong phú là một lợi thế. Tuy nhiên, để biến lợi thế về nguyên liệu thành sản phẩm có giá trị cao, cần sự tham gia của khoa học và công nghệ trong toàn bộ quá trình.

GS. TS. Chu Hoàng Hà cho rằng Việt Nam có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú nhưng cần dựa trên KH&CN để chuẩn hóa nguyên liệu, làm chủ công nghệ và phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng.

Điều này cũng cho thấy một hướng đi từ tài nguyên đến tri thức, từ tri thức đến công nghệ và từ công nghệ đến sản phẩm. Khi quá trình đó được kết nối với DN, sản phẩm có thêm điều kiện tiếp cận thị trường; khi gắn với bệnh viện và cơ sở y tế, các giải pháp có thêm cơ hội được kiểm nghiệm từ nhu cầu thực tế.

Đào tạo nhân lực gắn với nghiên cứu và ứng dụng

Một nội dung đáng chú ý khác trong hợp tác là đào tạo nhân lực. ĐH KH&CN Hà Nội đã thành lập Khoa Y Dược, đào tạo chương trình Dược sĩ và chuẩn bị mở chương trình đào tạo Bác sĩ Y khoa. Trước đó, trường đã ký các thỏa thuận hợp tác với ĐH Paris Cité và ĐH Lyon của Pháp trong nghiên cứu, đào tạo y dược và CSSK.

Việc kết nối đào tạo với nghiên cứu và thực tiễn có thể tạo ra một vòng liên kết liên tục: nhu cầu của hệ thống y tế và DN đặt ra yêu cầu về nhân lực; cơ sở đào tạo cung cấp kiến thức và kỹ năng; các viện nghiên cứu tạo môi trường nghiên cứu; DN và bệnh viện tạo điều kiện để kết quả đào tạo, nghiên cứu được đưa vào thực tế.

Trong hợp tác với Trường ĐH Quang Trung, Viện Hàn lâm dự kiến phối hợp xây dựng chương trình đào tạo, giảng dạy, đào tạo giảng viên và nhân lực trình độ cao, đồng thời triển khai các nghiên cứu chung.

Như vậy, hợp tác khoa học không chỉ nhằm tạo ra một sản phẩm cụ thể mà còn hướng tới xây dựng năng lực lâu dài. Đội ngũ nghiên cứu, giảng viên, kỹ thuật viên và nhân lực y dược được đào tạo trong môi trường gắn với nghiên cứu và ứng dụng sẽ là nguồn lực quan trọng để tiếp tục phát triển công nghệ trong tương lai.

Doanh nghiệp trở thành một mắt xích của quá trình nghiên cứu

Từ góc độ DN, ông Trần Đình Văn, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Dược phẩm Bến Tre, cho rằng phát triển bền vững cần dựa trên tri thức, con người, khoa học, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo.

Theo ông, DN có nguồn lực đầu tư, cơ sở sản xuất, bệnh viện, trường học và thị trường; trong khi Viện Hàn lâm có đội ngũ nhà khoa học, phòng thí nghiệm và kết quả nghiên cứu. Sự bổ trợ này tạo cơ sở để hình thành các dự án có tính ứng dụng cao hơn. Nếu nhà khoa học có ý tưởng và kết quả nghiên cứu, DN có thể cung cấp thông tin về nhu cầu thị trường, khả năng sản xuất và thương mại hóa. Bệnh viện có thể phản ánh nhu cầu chuyên môn và thực tế sử dụng, trong khi cơ sở đào tạo góp phần phát triển nhân lực.

Ông Trần Đình Văn cũng cho rằng hiệu quả hợp tác cần được thể hiện thông qua những kết quả cụ thể như đề tài được triển khai, công nghệ được chuyển giao, sản phẩm được hình thành và kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn. Đây cũng là điểm then chốt để biến một biên bản ghi nhớ thành hoạt động hợp tác thực chất. Giá trị của liên kết không nằm ở số lượng thỏa thuận được ký mà ở khả năng chuyển các nội dung hợp tác thành nhiệm vụ, dự án, công nghệ và sản phẩm cụ thể.

Mục tiêu được DN đặt ra là bắt đầu từ những việc cụ thể, tạo ra những sản phẩm cụ thể, đồng thời hướng tới việc đưa trí tuệ, KH&CN Việt Nam trở thành những sản phẩm có giá trị, phục vụ sức khỏe cộng đồng và từng bước tiếp cận thị trường thế giới.

Từ lễ ký đến những nhiệm vụ có sản phẩm đầu ra

Để hợp tác đi vào chiều sâu, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Chu Hoàng Hà đề nghị các bên nhanh chóng lựa chọn những chương trình nghiên cứu và phát triển công nghệ có mục tiêu, sản phẩm đầu ra rõ ràng. Cùng với đó là hình thành các nhóm nghiên cứu chung, tăng cường đào tạo nhân lực, xây dựng cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Một số công nghệ, sản phẩm có tiềm năng cũng được định hướng lựa chọn để triển khai thành các mô hình hợp tác cụ thể.

Đây là bước chuyển quan trọng từ "hợp tác trên giấy" sang hợp tác theo nhiệm vụ. Khi một chương trình có mục tiêu rõ, sản phẩm đầu ra được xác định ngay từ đầu và có sự tham gia của các bên liên quan, quá trình nghiên cứu có thể được định hướng sát hơn với nhu cầu ứng dụng.

Đặc biệt, việc xác lập cơ chế sở hữu trí tuệ và chuyển giao ngay trong quá trình hợp tác giúp tạo hành lang để kết quả nghiên cứu có thể tiếp tục được phát triển sau khi hoàn thành nhiệm vụ khoa học.

Với DN, đó là cơ sở để tính toán đầu tư và sản xuất. Với nhà khoa học, đây là điều kiện để kết quả nghiên cứu tiếp tục được hoàn thiện. Với xã hội, đó là cơ hội để các thành tựu khoa học nhanh chóng được chuyển thành sản phẩm, dịch vụ và giải pháp phục vụ đời sống.

Đưa khoa học đến gần người dân hơn

Sau lễ ký kết, các bên dự kiến xây dựng cơ chế phối hợp thường xuyên, xác định các chương trình ưu tiên và lựa chọn những nhiệm vụ có khả năng triển khai. Trọng tâm là tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu được thử nghiệm, hoàn thiện và ứng dụng, đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà khoa học, tổ chức nghiên cứu, DN, nhà đầu tư và xã hội.

437-202609181627594.jpg
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm.

Đối với lĩnh vực y dược, kết quả của quá trình này có thể được nhìn nhận từ chính nhu cầu của người dân: sản phẩm CSSK có cơ sở khoa học hơn, công nghệ được hoàn thiện trong nước, nguồn dược liệu được chuẩn hóa tốt hơn, đội ngũ nhân lực được đào tạo bài bản hơn và các giải pháp mới có thêm cơ hội được đưa vào thực tế.

Ở tầm rộng hơn, việc hình thành các liên kết giữa viện nghiên cứu, trường ĐH, bệnh viện và DN tạo nên một hệ sinh thái trong đó mỗi bên đảm nhận một mắt xích nhưng cùng hướng tới một chuỗi giá trị chung.

Khi DN đưa bài toán thực tế vào nghiên cứu, nhà khoa học có thêm cơ sở xác định hướng phát triển công nghệ. Khi bệnh viện và cơ sở y tế tham gia, yêu cầu sử dụng và chăm sóc sức khỏe được phản ánh rõ hơn. Khi cơ sở đào tạo cùng tham gia, quá trình nghiên cứu đồng thời tạo ra nguồn nhân lực mới.

Từ đó, khoa học không dừng lại ở các công bố hay kết quả trong phòng thí nghiệm mà tiếp tục đi qua các khâu thử nghiệm, chuyển giao, sản xuất và thương mại hóa để đến với thị trường và người dân./.

Nổi bật
    Mới nhất
    Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam thúc đẩy đưa nghiên cứu y dược vào đời sống