Truyền thông

Ứng dụng công nghệ cao: "Đòn bẩy" bứt phá cho ngành trồng trọt

QA, HT • 07/10/2026 16:13

Trồng trọt là lĩnh vực trọng điểm, thu hút nhiều dự án nhất trong Chương trình “Hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025” do Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) chủ trì. Các dự án đã đưa nhiều tiến bộ KH&CN vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân địa phương.

HTX rau sach Tuy Loan (3)
Các dự án rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP và rau sản xuất theo hướng hữu cơ, chú trọng các yêu cầu về chất lượng, an toàn và hình thức sản phẩm (Ảnh: PV).

Đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất

Theo Bộ KH&CN, trong giai đoạn 2016 - 2025, lĩnh vực trồng trọt là một trong những lĩnh vực trọng điểm của Chương trình, với số lượng dự án lớn [1]. Các dự án tập trung ứng dụng, chuyển giao nhiều tiến bộ KH&CN phù hợp với điều kiện sản xuất của từng địa phương, đồng thời xây dựng các mô hình để người dân tiếp cận, áp dụng và từng bước nhân rộng.

Phan loai cac nhiem vu trong trot
Phân loại các nhóm nhiệm vụ lĩnh vực trồng trọt trong Chương trình “Hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025” (Nguồn ảnh: Bộ KH&CN).

Các dự án trong lĩnh vực trồng trọt đã đào tạo 1.792 kỹ thuật viên cơ sở, tập huấn kỹ thuật cho 38.929 lượt nông dân tại các địa bàn triển khai; chuyển giao và tiếp nhận 976 quy trình công nghệ; xây dựng 647 mô hình và tổ chức hàng trăm hội nghị đầu bờ nhằm giới thiệu, khuyến cáo kết quả tới cộng đồng dân cư.

Các dự án được triển khai trên nhiều nhóm cây trồng, từ cây lương thực, rau, hoa, cây công nghiệp, cây dược liệu, cây ăn quả đến một số loại cây trồng khác. Qua đó, hoạt động ứng dụng KH&CN từng bước gắn với nhu cầu thực tiễn của sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và tạo cơ sở để nhân rộng các mô hình tại địa phương.

Nâng cao giá trị cây lương thực

Đối với nhóm cây lương thực, Chương trình có 27 dự án, chiếm 12% số dự án trong lĩnh vực trồng trọt, được triển khai tại 22 tỉnh, thành phố trên cả nước. Các dự án tập trung vào sản xuất, chuyển giao các giống lúa mới, sạch bệnh như Sơn Lâm 1, Hương Cốm 4, J02; sản xuất củ giống khoai tây bằng công nghệ khí canh và một số tiến bộ kỹ thuật khác.

Một trong những dự án tiêu biểu là “Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ xây dựng mô hình chuỗi giá trị sản xuất lúa Japonica J02 trên địa bàn các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An”, do Công ty TNHH MTV Lê Thắng chủ trì [2]. Dự án được triển khai tại các huyện miền núi của tỉnh Nghệ An, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống, qua đó đưa giống lúa Japonica J02 trở thành giống lúa thuần sản xuất chính tại hai huyện Quỳ Châu và Quế Phong.

So với trước khi thực hiện dự án, diện tích sản xuất lúa Japonica J02 tăng 40% vào vụ xuân và 20% vào vụ mùa; năng suất bình quân tăng 25%, từ 52 tạ/ha lên 65 tạ/ha. Với giá bán khoảng 10.000 đồng/kg, cao hơn các giống lúa khác có năng suất và chi phí tương đương từ 3.000 - 4.000 đồng/kg, thu nhập của người dân tăng thêm khoảng 30%.

Từ nguồn hỗ trợ của dự án về máy móc, thiết bị, Công ty đã xây dựng và đưa vào vận hành Nhà máy chế biến gạo Japonica Hương Quế với diện tích 1.000 m², công suất 2 - 2,5 tấn/giờ, tạo việc làm cho hơn 30 lao động và mang lại lợi nhuận cho công ty khoảng 460 triệu đồng/năm.

Đây cũng là dự án đầu tiên trên địa bàn huyện Quế Phong được tiếp nhận bộ quy trình tương đối hoàn thiện, khép kín từ sản xuất hạt giống, lúa thương phẩm đến chế biến thành gạo và các sản phẩm phụ, góp phần hình thành chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ.

Phát triển sản xuất rau an toàn

Đối với nhóm cây rau, thực hiện Chương trình có 32 dự án, chiếm 14% số dự án trong lĩnh vực trồng trọt, được triển khai tại 26 tỉnh, thành phố.

Các dự án tập trung phát triển rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP và rau sản xuất theo hướng hữu cơ, chú trọng các yêu cầu về chất lượng, an toàn và hình thức sản phẩm. Hàng nghìn lượt nông dân đã được đào tạo, tập huấn về kỹ thuật sản xuất rau, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và bảo đảm an toàn thực phẩm tại các địa bàn triển khai.

Tiêu biểu là dự án “Ứng dụng công nghệ cao trong xây dựng mô hình sản xuất, bảo quản và tiêu thụ rau an toàn, chất lượng tại tỉnh Ninh Bình” do Công ty CP Đầu tư Công nghệ Xanh chủ trì [4]. Từ sự hỗ trợ của dự án, Công ty từng bước xây dựng cơ sở vật chất, chuyển từ mô hình trang trại đơn sơ thành cơ sở sản xuất rau an toàn đạt tiêu chuẩn VietGAP với hệ thống nhà màng kiên cố.

5.jpg
Dự án “Ứng dụng công nghệ cao trong xây dựng mô hình sản xuất, bảo quản và tiêu thụ rau an toàn, chất lượng tại tỉnh Ninh Bình” đã giúp chuyển đổi phương thức sản xuất đã tạo thêm cơ hội tăng thu nhập cho người dân (Nguồn: vista.gov.vn).

Trước khi thực hiện dự án, sản lượng rau của Công ty đạt khoảng 300 tấn/năm, doanh thu khoảng 1,8 tỷ đồng/năm; sau khi trừ chi phí, lợi nhuận đạt khoảng 200 - 300 triệu đồng/năm. Từ năm 2018, sau khi triển khai dự án, rau được sản xuất theo quy trình VietGAP, sản lượng tăng lên hơn 1.000 tấn/năm. Sản phẩm có mẫu mã đẹp và được gắn tem truy xuất nguồn gốc. Doanh thu của Công ty đạt khoảng 12 tỷ đồng/năm, lợi nhuận sau khi trừ chi phí trung bình hơn 3 tỷ đồng/năm.

Dự án cũng tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 30 lao động tại địa phương. Đáng chú ý, việc chuyển đổi phương thức sản xuất đã tạo thêm cơ hội tăng thu nhập cho người dân. Trước khi tham gia dự án, nhiều hộ chủ yếu sản xuất hai vụ lúa/năm, thời gian còn lại làm các công việc thời vụ như phụ hồ, làm thuê để tăng thu nhập. Sau khi tham gia dự án, một số hộ chuyển sang sản xuất rau ba vụ, mức thu nhập bình quân tăng từ 4-5 triệu đồng/tháng lên khoảng 8 triệu đồng/tháng.

Ứng dụng công nghệ trong sản xuất hoa

Đối với cây hoa, Chương trình có 26 dự án, chiếm 11% số dự án trong lĩnh vực trồng trọt, được triển khai tại 21 tỉnh, thành phố.

Các dự án tập trung chuyển giao kỹ thuật nhân giống, trồng và chăm sóc hoa ở quy mô hộ gia đình và quy mô công nghiệp. Bên cạnh việc đưa vào sản xuất các giống hoa mới, có mẫu mã đẹp và hiệu quả kinh tế, các dự án còn hỗ trợ tổ chức chủ trì xây dựng nhà lưới, lắp đặt hệ thống phun sương, điều khiển nhiệt độ, ánh sáng tự động, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất.

Việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất hoa không chỉ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn tạo điều kiện để các địa phương từng bước chuyển từ phương thức sản xuất truyền thống sang sản xuất có kiểm soát và ứng dụng thiết bị kỹ thuật.

Thâm canh, nâng cao giá trị cây công nghiệp

Nhóm cây công nghiệp gồm cà phê, hồ tiêu, điều và chè, Chương trình có 36 dự án, chiếm 16% số dự án trong lĩnh vực trồng trọt, được triển khai tại 28 tỉnh, thành phố. Các dự án tập trung ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh, chăm sóc và cải tạo vườn cây công nghiệp; đồng thời chú trọng bảo quản, chế biến các sản phẩm như chè xanh, chè đen, chè túi lọc, hồ tiêu và cà phê.

Việc kết hợp giữa ứng dụng kỹ thuật trong sản xuất với bảo quản, chế biến góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng khả năng tiêu thụ và tạo thêm giá trị cho các vùng sản xuất cây công nghiệp tại địa phương.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong phát triển cây dược liệu

Cây dược liệu là một trong những nhóm có số lượng dự án lớn trong lĩnh vực trồng trọt, với 53 dự án, chiếm 23%, được triển khai tại 35 tỉnh, thành phố. Các dự án tập trung ứng dụng quy trình công nghệ trong trồng, chăm sóc và thu hoạch nhiều loại dược liệu như giảo cổ lam, cúc hoa vàng, đương quy Nhật Bản, đan sâm...

Đáng chú ý, trong giai đoạn này, các dự án chú trọng yêu cầu dược liệu phải đáp ứng các chỉ tiêu theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đồng thời ưu tiên những dự án áp dụng công nghệ trong sơ chế, chế biến cây dược liệu.

Việc ứng dụng KH&CN không chỉ hướng tới nâng cao năng suất mà còn góp phần kiểm soát chất lượng nguyên liệu, tạo tiền đề cho phát triển các sản phẩm dược liệu có giá trị cao hơn.

Phát triển cây ăn quả theo hướng sản xuất hàng hóa

Đối với cây ăn quả, có 48 dự án, chiếm 20% số dự án trong lĩnh vực trồng trọt, được triển khai tại 40 tỉnh, thành phố. Các dự án tập trung ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật mới trong trồng, chăm sóc cây ăn quả theo hướng VietGAP. Đồng thời, các dự án phát triển nhiều loại cây đặc sản và cây ăn quả có giá trị như bưởi Diễn, dừa sáp, bưởi đỏ Hòa Bình...

Thông qua việc chuyển giao kỹ thuật, xây dựng mô hình và tổ chức các hoạt động hướng dẫn, phổ biến kết quả, các dự án đã tạo cơ sở để địa phương tiếp tục phát triển, nhân rộng các mô hình sản xuất cây ăn quả phù hợp với điều kiện thực tế.

Hỗ trợ phát triển các loại cây trồng khác

Bên cạnh những nhóm cây trồng chủ lực, có 13 dự án, chiếm 6% số dự án trong lĩnh vực trồng trọt, được triển khai tại 40 tỉnh, thành phố.

Các dự án tập trung hỗ trợ ứng dụng KH&CN trong phát triển vùng nguyên liệu mía; nhân giống, trồng rừng thâm canh đối với một số cây lâm nghiệp như keo lai, thông Caribe.

Đây là những hướng ứng dụng KH&CN phù hợp với điều kiện sản xuất của từng địa phương, góp phần phát triển vùng nguyên liệu, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tạo thêm sinh kế cho người dân.

Từ mô hình ứng dụng đến nhân rộng

Theo đánh giá của Bộ KH&CN [2], nhìn tổng thể, các dự án thuộc lĩnh vực trồng trọt trong “Hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng DTTS giai đoạn 2016 - 2025” đã tập trung vào những khâu thiết thực của sản xuất, từ giống, quy trình canh tác, chăm sóc, thu hoạch đến bảo quản và chế biến. Cách tiếp cận này giúp KH&CN gắn chặt hơn với nhu cầu sản xuất và điều kiện thực tế tại nông thôn, miền núi, vùng DTTS.

Thông qua 1.792 kỹ thuật viên cơ sở được đào tạo, 38.929 lượt nông dân được tập huấn, 976 quy trình công nghệ được chuyển giao và 647 mô hình được xây dựng, các dự án đã góp phần hình thành lực lượng kỹ thuật tại chỗ và tạo điều kiện để người dân trực tiếp tiếp nhận, áp dụng tiến bộ KH&CN.

Từ cây lương thực, rau, hoa đến cây công nghiệp, cây dược liệu, cây ăn quả và các loại cây trồng khác, việc ứng dụng công nghệ đã từng bước tạo ra những mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện từng địa bàn. Một số mô hình không chỉ dừng ở nâng cao năng suất mà còn hướng tới xây dựng chuỗi giá trị, gắn sản xuất với chế biến, truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ sản phẩm.

Những kết quả này cho thấy vai trò của KH&CN trong thúc đẩy chuyển đổi phương thức sản xuất nông nghiệp, nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng cơ hội tăng thu nhập cho người dân tại các địa bàn triển khai các dự án thuộc Chương trình.

“

Tài liệu tham khảo

[1] Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 1747/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 13/102015: Phê duyệt Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2025.

[2] Bộ Khoa học và Công nghệ (2026), Báo cáo tổng kết chương trình nông thôn miền núi giai đoạn 2016 - 2025.

[3] Đình Lâm (2021), “Sở Khoa học và Công nghệ hỗ trợ ứng dụng chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển nông nghiệp vùng dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Nghệ An”, https://ngheandost.gov.vn/nong-nghiep/so-khoa-hoc-va-cong-nghe-ho-tro-ung-dung-chuyen-giao-tien-bo-khoa-hoc-va-cong-nghe-thuc-day-phat-trien-nong-nghiep-vung-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui-tinh-nghe-an-1550.html, truy cập ngày 16/9/2026.

[4] N.P.D (NASATI) (2023), “Ứng dụng công nghệ cao trong xây dựng mô hình sản xuất, bảo quản và tiêu thụ rau an toàn, chất lượng tại tỉnh Ninh Bình, https://vista.gov.vn/vi/news/ket-qua-nghien-cuu-trien-khai/ung-dung-cong-nghe-cao-trong-xay-dung-mo-hinh-san-xuat-bao-quan-va-tieu-thu-rau-an-toan-chat-luong-tai-tinh-ninh-binh-7504.html, truy cập ngày 20/9/2026./.

Nổi bật
    Mới nhất
    Ứng dụng công nghệ cao: "Đòn bẩy" bứt phá cho ngành trồng trọt