Tháo gỡ điểm nghẽn thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Tại Hội thảo Kết nối công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Hà Nội năm 2026, do Cục Đổi mới sáng tạo (ĐMST) và Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phối hợp tổ chức ngày 3/10/2026, tại Hà Nội, các đại biểu đã thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn trong liên kết, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Theo đó, một số giải pháp đã được đề xuất nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn này.

Nhận diện những khó khăn trong liên kết và thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Theo kết quả rà soát gần đây của Bộ KH&CN đối với 34 tỉnh, thành phố được Cục ĐMST thông tin tại hội thảo, có hơn 750 nhiệm vụ và gần 730 sản phẩm KH&CN đang được triển khai từ năm 2025, cùng với 280 sản phẩm dự kiến triển khai trong năm 2026. Một số kết quả nghiên cứu công nghệ đã được ứng dụng mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp (DN), sản xuất. Tuy nhiên, kết quả thực tế vẫn còn khiêm tốn, mới chỉ có gần 60 nhiệm vụ, tương đương khoảng 7,8% đã hoàn thành và có khả năng thương mại hóa. Cùng với đó, mới có 11 sản phẩm, chiếm khoảng 1,5%, đã và đang thương mại hóa.
Ông Phạm Việt Hồng, Phó Cục trưởng Cục ĐMST, cho rằng vẫn còn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường. DN vẫn chưa thực sự trở thành trung tâm của hệ thống ĐMST theo tinh thần Nghị quyết 57 của Trung ương.
.jpg)
Cũng theo ông Phạm Việt Hồng, tại cuộc họp ngày 25/9/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã chỉ rõ một số vấn đề như nguồn cung công nghệ còn hạn chế, doanh nghiệp tham gia chưa sâu, cơ chế định giá kết quả nghiên cứu còn vướng mắc, trong khi các tổ chức trung gian còn thiếu và hoạt động chưa thực sự hiệu quả.
Từ thực tiễn của Đại học (ĐH) Quốc gia Hà Nội, PGS.TS. Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và ĐMST, ĐH Quốc gia Hà Nội, cho rằng thương mại hóa kết quả nghiên cứu không chỉ phụ thuộc vào chất lượng khoa học mà còn phụ thuộc vào khả năng kết nối các nguồn lực trong toàn bộ quá trình từ nghiên cứu đến thị trường.

PGS.TS. Trương Ngọc Kiểm nhận định những khó khăn chủ yếu tập trung ở một số nhóm vấn đề: kết nối nhu cầu thực tiễn, nhu cầu thị trường với hoạt động nghiên cứu; quá trình chuyển từ kết quả nghiên cứu sang công nghệ có khả năng thương mại hóa; nguồn lực tài chính cho giai đoạn tiền thương mại hóa; quản lý, định giá và khai thác tài sản trí tuệ; đội ngũ tham gia thương mại hóa; hình thành DN khởi nguồn từ trường ĐH; môi trường thử nghiệm và thị trường ban đầu.
Đa dạng hóa mô hình liên kết để đưa công nghệ ra thị trường
Chia sẻ kinh nghiệm từ một số quốc gia như Đức, Singapore, Israel và Vương quốc Anh về thương mại hóa sản phẩm công nghệ, PGS.TS. Trương Ngọc Kiểm đưa ra bốn gợi ý: Thứ nhất, không nên tìm kiếm một mô hình liên kết tối ưu duy nhất; Thứ hai, cần lựa chọn mô hình phù hợp với mức độ trưởng thành của công nghệ và đặc điểm thị trường; Thứ ba, Nhà nước nên tập trung hỗ trợ vào những giai đoạn có rủi ro cao và thiếu vốn tư nhân; Thứ tư, cần có tổ chức trung gian đủ năng lực để hỗ trợ nhà khoa học lựa chọn và triển khai con đường thương mại hóa phù hợp.
Trên cơ sở phân tích và gợi ý, PGS.TS. Trương Ngọc Kiểm đề xuất hệ thống 7 mô hình liên kết. Các mô hình này không loại trừ nhau mà có thể kết hợp hoặc chuyển đổi trong vòng đời của một công nghệ.
Mô hình thứ nhất là DN đặt hàng - ĐH nghiên cứu. DN xác định nhu cầu, bài toán hoặc yêu cầu công nghệ; trường đại học tổ chức nghiên cứu và phát triển giải pháp. Nhà nước có thể đồng tài trợ đối với những nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, tác động lan tỏa hoặc có mức độ rủi ro công nghệ cao.
Mô hình thứ hai là đồng nghiên cứu - đồng đầu tư - đồng khai thác. Trường ĐH và DN cùng tham gia ngay từ đầu, cùng đóng góp nguồn lực và thỏa thuận về quyền đối với kết quả cũng như phương thức khai thác. Nhà nước có thể đóng vai trò đồng tài trợ và chia sẻ rủi ro. Mô hình này phù hợp với những công nghệ cần quá trình nghiên cứu và phát triển dài hạn.
Mô hình thứ ba là chuyển giao hoặc cấp quyền khai thác công nghệ. Trường ĐH tạo ra kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ, sau đó chuyển giao quyền sở hữu hoặc cấp quyền sử dụng cho DN để phát triển sản phẩm và thị trường. Đây vẫn là một con đường quan trọng, đặc biệt khi đã có DN đủ năng lực tiếp nhận.
Mô hình thứ tư là thành lập DN khởi nguồn từ trường ĐH. Khi công nghệ có tiềm năng nhưng chưa có DN phù hợp để tiếp nhận, nhóm nghiên cứu và trường ĐH có thể lựa chọn thành lập DN khởi nguồn. Mô hình này phù hợp với công nghệ sâu, trong đó quá trình hoàn thiện công nghệ và xây dựng thị trường cần thời gian dài.
Mô hình thứ năm là phòng thí nghiệm/trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) hợp tác. Theo mô hình này, trường ĐH và DN cùng hình thành phòng thí nghiệm hoặc trung tâm R&D dài hạn. DN cung cấp bài toán, nguồn lực, dữ liệu và hiểu biết thị trường; trường ĐH cung cấp nhà khoa học, sinh viên, nghiên cứu sinh, hạ tầng nghiên cứu và tri thức. Nhà nước có thể hỗ trợ một phần hạ tầng và các chương trình nghiên cứu chiến lược.
Mô hình thứ sáu là thử nghiệm - phòng thí nghiệm - cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (testbed, living lab, sandbox). Trường ĐH, Nhà nước và DN cùng xây dựng môi trường thử nghiệm thực tế cho công nghệ, sản phẩm hoặc mô hình kinh doanh mới. Khuôn viên ĐH có thể trở thành một “living lab” cho các công nghệ về đô thị thông minh, năng lượng, môi trường, y tế, giáo dục, trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số.
Mô hình thứ bảy là hệ sinh thái ĐMST tích hợp. Đây là mô hình ở cấp độ cao hơn, trong đó nhiều cấu phần được tích hợp, tạo thành hệ sinh thái kết nối nghiên cứu, công nghệ, DN, nguồn vốn, tổ chức trung gian và thị trường.
PGS.TS. Trương Ngọc Kiểm cho rằng việc đa dạng hóa các mô hình liên kết, theo hướng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của công nghệ, có thể tạo thêm những con đường để kết quả nghiên cứu được hoàn thiện, thử nghiệm và từng bước tiếp cận thị trường.
Tổng kết lại những chia sẻ, PGS.TS. Trương Ngọc Kiểm đưa ra thông điệp: “Đa dạng hóa mô hình liên kết không đơn thuần là tăng số lượng hình thức hợp tác, mà là tạo ra nhiều con đường phù hợp để tri thức, công nghệ và kết quả nghiên cứu đi từ trường ĐH đến DN, thị trường và xã hội”.

Phát triển tổ chức trung gian đáp ứng nhu cầu kết nối cung - cầu công nghệ
Một trong những vấn đề then chốt để phát triển thị trường KH&CN là làm thế nào để nguồn cung công nghệ có khả năng ứng dụng được kết nối đúng với nhu cầu thực tế của DN và thị trường. Trong quá trình này, các tổ chức trung gian của thị trường KH&CN giữ vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm, xác định và chuẩn hóa thông tin công nghệ; kết nối bên cung và bên cầu; hỗ trợ tư vấn, chuyển giao và từng bước thúc đẩy thương mại hóa công nghệ.
Ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Trung tâm Thúc đẩy phát triển thị trường KH&CN, Cục ĐMST, cho biết các tổ chức trung gian hiện khá đa dạng và đang phát huy vai trò trong kết nối thị trường. Nhiều tổ chức trung gian được hình thành từ các sàn giao dịch công nghệ. Cùng với đó còn có các điểm kết nối cung - cầu, các trung tâm ứng dụng, các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ và hiện có nhiều trung tâm ĐMST cũng đang hình thành.

Theo ông Nguyễn Văn Thành, cần đánh giá đúng thực trạng thị trường để tiếp tục phát triển hệ thống tổ chức trung gian đáp ứng yêu cầu thực tế. Đồng thời, cần có chính sách đào tạo, nâng cao năng lực cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này, tương tự hoạt động tư vấn chuyên môn ở một số ngành, lĩnh vực khác.
Ông Nguyễn Văn Thành nhấn mạnh, KH&CN là lĩnh vực rộng, phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố, vì vậy, việc đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ tổ chức trung gian có ý nghĩa quan trọng. “Đây là lực lượng trực tiếp tham gia kết nối chuyển giao công nghệ và góp phần hình thành các giao dịch trên thị trường KH&CN”.
Phó Cục trưởng Cục ĐMST Phạm Việt Hồng cho biết khung pháp lý về KHCN, ĐMST và SHTT đã được hoàn thiện. Nhà nước giao quyền chủ động cho tổ chức chủ trì được tự quyết định hình thức, giá và phương thức thương mại hóa. Tác giả được hưởng tối thiểu 30% lợi ích, tổ chức trung gian tối thiểu là 10%. Nhà nước kiến tạo thể chế, hạ tầng, đặt hàng và mở thị trường đầu tiên. Các viện nghiên cứu, trường đại học tạo ra tri thức, công nghệ có chất lượng và sẵn sàng chuyển giao. DN đặt bài toán, đồng hành, đồng đầu tư, hấp thụ và nhân rộng công nghệ.
“Chỉ khi ba bên cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro, có các tổ chức trung gian làm cầu nối, có chuỗi giá trị để nghiên cứu, bảo hộ SHTT đến khai thác thị trường thì quá trình đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng mới thông suốt”, ông Phạm Việt Hồng khẳng định./.
