Nhiều biên bản ghi nhớ (MoU) kết nối nhà khoa học nữ với doanh nghiệp
Hội thảo “Kết nối công nghệ - Women in Tech” tổ chức ngày 11/8/2026 ghi nhận bước tiến thiết thực khi nhiều nhà khoa học nữ và doanh nghiệp tìm được điểm chung về nhu cầu, năng lực, tiến tới ký kết các biên bản ghi nhớ hợp tác (MoU).
Trong thực tế, khoảng cách từ một kết quả nghiên cứu có giá trị đến một sản phẩm được thị trường đón nhận không chỉ nằm ở chất lượng công nghệ. Đối với nhiều nhà khoa học nữ, khoảng cách này còn được kéo dài bởi hạn chế về mạng lưới kết nối, kỹ năng kinh doanh, khả năng tiếp cận doanh nghiệp (DN) và những rào cản trong việc huy động nguồn lực.
Đây là những vấn đề được đặt ra tại Hội thảo “Kết nối công nghệ - Women in Tech”, tổ chức ngày 11/8/2026. Thay vì chỉ tập trung vào việc giới thiệu các kết quả nghiên cứu, hội thảo hướng tới một điểm giao quan trọng hơn: kết nối năng lực nghiên cứu của các nhà khoa học nữ với nhu cầu thực tế của DN, qua đó mở rộng cơ hội đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường.
Những nguồn lực dồi dào nhưng chưa được khai thác hết
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KH,CN,ĐMST&CĐS) quốc gia, cần phát huy tối đa tiềm năng của đội ngũ trí thức, nhà khoa học - nhân tố then chốt của hệ sinh thái ĐMST.
Trong đó, không thể phủ nhận rằng các nhà khoa học nữ là một bộ phận quan trọng của lực lượng nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam.
.jpeg)
Phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo, PGS. TS. Huỳnh Thành Đạt, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, biểu dương tỷ lệ ấn tượng của các nhà khoa học nữ trong lực lượng nghiên cứu và phát triển chiếm khoảng 45 - 46%, cao hơn đáng kể so với mức trung bình 31% trên thế giới.
Báo cáo của Cục Thông tin, Thống kê (Bộ KH&CN) năm 2024 về số lượng các nhà khoa học nữ trong các lĩnh vực nghiên cứu cho thấy, sự hiện diện của phụ nữ trong khoa học cũng trải rộng trên nhiều lĩnh vực có tiềm năng ứng dụng trực tiếp.
Trong đó, y dược là lĩnh vực có tỷ lệ tham gia của các nhà khoa học nữ gần 60%, bên cạnh công nghệ sinh học, môi trường, nông nghiệp và thực phẩm.
Không chỉ đóng góp về số lượng, các nhà khoa học nữ còn mang đến những cách tiếp cận đa dạng cho hoạt động nghiên cứu. Sự tỉ mỉ, kiên trì và những góc nhìn khác biệt có thể góp phần tạo ra các hướng nghiên cứu mới, thúc đẩy tinh thần chia sẻ và hợp tác trong môi trường học thuật.
Tuy nhiên, sự hiện diện đông đảo trong lực lượng nghiên cứu chưa đồng nghĩa với việc tiềm năng của các nhà khoa học nữ đã được phát huy đầy đủ trong các khâu có giá trị gia tăng cao hơn.
Nhận diện rào cản trong hành trình chuyển hóa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học nữ
Dù nguồn lực nghiên cứu từ các nhà khoa học nữ rất dồi dào, điểm nghẽn hiện nay nằm ở cơ chế chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành giá trị kinh tế thực tế trên thị trường.
Một trong những thách thức lớn là khoảng cách thông tin giữa phòng thí nghiệm và nhu cầu của thị trường. Theo bà Lê Thị Khánh Vân, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng khoa học và Khởi nghiệp, Hội Nữ Trí thức Việt Nam (COSTAS), tỷ lệ tài sản trí tuệ do nữ làm tác giả chính được thương mại hóa hiện khoảng 10%, trong khi tỷ lệ kết quả được cấp phép duy trì ở mức 18%.

Sự chênh lệch này phản ánh những rào cản mang tính hệ thống về môi trường tiếp cận và mạng lưới hỗ trợ. Yêu cầu thương mại hóa đòi hỏi sự tổng hòa giữa ngôn ngữ học thuật và ngôn ngữ kinh doanh, nơi DN cần nhìn rõ bài toán thực tế, khách hàng mục tiêu và mô hình tạo doanh thu. Tuy nhiên, các nhà khoa học nữ hiện vẫn thiếu các kênh kết nối chuyên nghiệp với giới đầu tư để khép lại khoảng cách này.
Về khía cạnh đảm nhận vai trò chủ trì, dù chiếm gần một nửa lực lượng nghiên cứu, tỷ lệ nữ làm chủ nhiệm nhiệm vụ KH&CN mới đạt khoảng 25,5%. Bên cạnh rào cản từ tiêu chí xét duyệt chưa thực sự tối ưu, các nhà khoa học nữ còn chịu áp lực lớn từ “vai trò kép” khi vừa gánh vác trách nhiệm chuyên môn, vừa duy trì công việc gia đình, tạo ra những thách thức không nhỏ khi theo đuổi các dự án dài hạn hoặc có biên độ rủi ro cao.
Những điểm nghẽn này càng đòi hỏi sự hoàn thiện đồng bộ của hệ thống hỗ trợ chuyển giao công nghệ quốc gia.
Cần một hệ thống kết nối thay vì những cuộc gặp riêng lẻ
Theo bà Lê Thị Khánh Vân, mạng lưới sàn giao dịch công nghệ hiện nay đã được hình thành ở nhiều cấp độ, từ sàn giao dịch công nghệ cấp quốc gia với hơn 4.500 sản phẩm được số hóa, đến các sàn giao dịch cấp vùng tại Hải Phòng và Cần Thơ và các sàn giao dịch ở địa phương.
Tuy nhiên, hệ thống này vẫn đứng trước hai thách thức lớn là dữ liệu phân mảnh và tỷ lệ thương mại hóa còn thấp.
Vấn đề không chỉ nằm ở số lượng công nghệ được đưa lên các nền tảng. Một hệ sinh thái chuyển giao công nghệ hiệu quả còn cần các tổ chức trung gian có khả năng xác định nhu cầu, kết nối đối tác, tư vấn và đồng hành trong toàn bộ quá trình từ đánh giá công nghệ đến chuyển giao và thương mại hóa.
Thực tế hiện nay, hoạt động môi giới và tư vấn chuyển giao công nghệ vẫn còn tương đối sơ khai, đơn lẻ và chưa hình thành được một mạng lưới có tính hệ thống. Các tổ chức trung gian cũng chưa liên kết chặt chẽ với các cơ quan thông tin KH&CN.
Ở phía DN, nhu cầu thuê tư vấn trong các khâu của quá trình chuyển giao công nghệ và đầu tư đổi mới công nghệ chưa trở thành một thói quen phổ biến. Trong nhiều trường hợp, đổi mới công nghệ vẫn được hiểu đơn giản là mua sắm thiết bị mới. Trong khi đó, đội ngũ tư vấn chuyển giao công nghệ cũng chưa được đào tạo một cách chuyên nghiệp và đồng bộ.
Điều này cho thấy bài toán thương mại hóa nghiên cứu không thể chỉ được giải quyết bằng cách yêu cầu nhà khoa học “tự đi tìm DN” mà phải cần một hệ thống trung gian đủ năng lực để giúp hai bên hiểu nhau, xác định đúng nhu cầu và chuyển hóa một kết quả nghiên cứu thành đề xuất có giá trị đối với thị trường.
Cần tạo thêm động lực để phụ nữ đảm nhận vai trò dẫn dắt
Bên cạnh việc hoàn thiện các tổ chức trung gian, một vấn đề khác được đặt ra là tạo ra những cơ chế khuyến khích phù hợp để phụ nữ tham gia sâu hơn vào các nhiệm vụ KH&CN với vai trò chủ trì.
Ông Đỗ Tiến Thịnh, Phó Giám đốc Trung tâm ĐMST Quốc gia (NIC), nhấn mạnh sự cần thiết của các tiêu chí khuyến khích nữ giới trong nghiên cứu khi triển khai mô hình ba nhà. Một đề xuất được đưa ra là có thể cộng thêm điểm ưu tiên cho các dự án do phụ nữ làm chủ nhiệm khi xét duyệt nhiệm vụ KH&CN cấp bộ. Những cơ chế như vậy không chỉ nhằm tăng tỷ lệ phụ nữ đứng tên chủ nhiệm đề tài.
Quan trọng hơn là có thể tạo thêm điều kiện để các nhà khoa học nữ đảm nhận vai trò quyết định, xây dựng nhóm nghiên cứu, sở hữu tài sản trí tuệ và tiếp tục theo đuổi quá trình thương mại hóa.

Hiệu quả mạng lưới thể hiện qua nhiều MoU
Thông qua các hoạt động giới thiệu kết quả nghiên cứu tại Hội thảo cùng các gian hàng trưng bày sản phẩm, các nhà khoa học nữ và các DN đã được tiếp xúc trao đổi và cùng nhau đi sâu hơn vào quá trình hợp tác.






Từ góc độ chính sách và hệ sinh thái, vấn đề đặt ra không phải chỉ là tạo thêm cơ hội để nhà khoa học nữ gặp DN. Quan trọng hơn là xây dựng được những kênh kết nối đủ năng lực để đồng hành với họ trong suốt quá trình chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành giá trị thực tiễn.

Khi nhà khoa học có điều kiện làm chủ nghiên cứu và tài sản trí tuệ, DN tiếp cận được công nghệ phù hợp, còn các tổ chức trung gian có khả năng hỗ trợ từ xác định nhu cầu đến chuyển giao, khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và thị trường sẽ có thêm cơ hội được thu hẹp./.
