KH&CN địa phương

Nguồn gen quý “Nếp Quạ đen Thanh Sơn” dưới lăng kính khoa học

Trọng Phương, Sở KH&CN Phú Thọ • 11/10/2026 06:41

Dự án về Nếp Quạ đen Thanh Sơn, Phú Thọ vừa chính thức được nghiệm thu. Đây là nguồn gen lúa nếp bản địa quý giá, được người dân địa phương lưu giữ, tuyển chọn và canh tác qua nhiều thế hệ. Sản phẩm có những giá trị vượt trội về chất lượng, hình thái và dinh dưỡng.

Cơ sở khoa học định danh Nếp Quạ đen Thanh Sơn

Dự án khoa học cấp tỉnh “Tạo lập và quản lý nhãn hiệu chứng nhận Nếp Quạ đen Thanh Sơn cho sản phẩm Nếp Quạ đen của tỉnh Phú Thọ” [1] vừa được Sở KH&CN tỉnh Phú Thọ nghiệm thu đã khẳng định hiệu quả của phương pháp tiếp cận liên ngành trong chuyển hóa nguồn gen lúa nếp bản địa thành tài sản trí tuệ có giá trị pháp lý và thương mại. Đồng thời, dự án mở ra định hướng quản trị bền vững cho sản phẩm đặc trưng vùng trung du miền núi phía Bắc.

408-202610091637141.jpg
Khu vực ruộng trồng Nếp Quạ đen Thanh Sơn thuộc dự án nghiên cứu (Ảnh: PV).

Trước khi dự án được triển khai, hoạt động sản xuất còn mang tính phân tán, quy mô nhỏ lẻ, thiếu quy trình chuẩn hóa và chưa thiết lập cơ chế quản trị tài sản trí tuệ đủ mạnh để bảo vệ tên gọi, nguồn gốc cũng như danh tiếng sản phẩm. Dự án do UBND xã Cự Đồng chủ trì, với sự phối hợp chuyên môn của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, được thực hiện từ tháng 4/2024 đến tháng 9/2026 theo Phụ lục Hợp đồng số 44/PLHĐ-PTTTSTT ký điều chỉnh ngày 04/12/2025 [2].

Quá trình nghiên cứu thực nghiệm đã chuẩn hóa bộ chỉ tiêu nông sinh học có giá trị định danh cao: khóm lúa hình thái nửa đứng, phiến lá màu xanh đậm, thời gian trỗ và chín muộn, lá tàn muộn, bông thoát cổ hoàn toàn; vỏ trấu màu từ đỏ đến tím nhạt, rãnh và mỏ hạt màu nâu đặc trưng; hạt gạo lật dạng bán tròn, màu trắng đục, khi nấu chín tỏa hương thơm tự nhiên. Phân tích sinh hóa ghi nhận hàm lượng tinh bột là 75,93-78,23%, protein 8,76-9,69%, amylopectin 96,31-97,11%, độ hồ hóa Đ3-Đ4.

Chất lượng xay xát đạt tỷ lệ gạo nguyên 80,89-82,68% và gạo xát 88,56-90,00%. Giá trị dinh dưỡng vi khoáng nổi bật với magie là 108-120 mg/kg, canxi 76-85 mg/kg, sắt 86-89 mg/kg và vitamin B1 0,29-0,43 mg/100 g [2]. Nghiên cứu sinh thái thổ nhưỡng xác định pH đất 3,89-4,29, hàm lượng chất hữu cơ 2,87-3,98%, kết hợp hài hòa với hệ khoáng chất đạm, lân, kali tự nhiên của vùng trung du.

ThS. Chu Thị Bích Thuỷ, Phó Giám đốc Sở KH&CN tỉnh Phú Thọ chủ trì họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu Dự án (Ảnh: PV).
ThS Chu Thị Bích Thuỷ, Phó Giám đốc Sở KH&CN tỉnh Phú Thọ chủ trì họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu Dự án (Ảnh: PV).

Kiểm nghiệm an toàn thực phẩm cho thấy không phát hiện dư lượng Permethrin, Cadimi và thủy ngân; dư lượng Cypermethrin chỉ 4,37-15,68 µg/kg, thấp hơn nhiều so với ngưỡng MRL (mức giới hạn tối đa của dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn tại trong hoặc trên bề mặt thực phẩm hoặc nông sản) cho phép [2]. Toàn bộ ngữ liệu định lượng này tạo nền tảng khoa học vững chắc cho bản mô tả sản phẩm và bộ tiêu chí chứng nhận đăng ký sở hữu trí tuệ.

Xây dựng khung pháp lý quản trị và hệ thống công cụ kiểm soát chất lượng - truy xuất nguồn gốc

Dự án đã hoàn thiện 1 bộ hồ sơ đăng ký Nhãn hiệu chứng nhận “Nếp Quạ đen Thanh Sơn”, bao gồm mẫu nhãn hiệu, hệ thống nhận diện, bản đồ vùng địa lý quy hoạch và bộ tiêu chí chứng nhận [2].

Khung pháp lý vận hành được xác lập qua 4 quy chế quản lý thống nhất: Quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận; Quy chế cấp và thu hồi quyền sử dụng; Quy chế kiểm soát chất lượng sản phẩm; và Quy chế phối hợp trong quản lý và sử dụng nhãn hiệu. Các quy chế phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm giữa chủ sở hữu (UBND xã Cự Đồng), bộ phận quản lý chuyên môn, tổ chức đại diện sản xuất (Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp Thắng Sơn) và các hộ canh tác trực tiếp [2].

Công tác kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc được thiết lập theo quy trình quản trị chuỗi khép kín, phân định 5 mã số lô/vùng trồng và cấp phát 20.000 tem QR Code [2].

Trong suốt chu kỳ sản xuất, đơn vị quản lý thực hiện 8 đợt kiểm tra, giám sát định kỳ và đột xuất từ khâu chuẩn bị đất đến thu hoạch và đóng gói. Tỷ lệ tuân thủ quy trình kỹ thuật của người dân tăng từ 92% (vụ Mùa 2024) lên 96% (vụ Mùa 2025). Hệ thống đã thẩm định thành công 25/25 hồ sơ năng lực và trao quyền sử dụng thử nghiệm cho HTX Nông nghiệp Thắng Sơn cùng 24 hộ thành viên.

Bộ sản phẩm nhận diện thương hiệu được phát triển đồng bộ, gồm: 5.000 tem nhãn, 500 tờ rơi, 10 poster, 600 hộp bao bì loại 5 kg, 600 hộp bao bì loại 2 kg, 5.000 túi Zip, 1 video clip, 1 phóng sự truyền hình và 1 biển quảng cáo ngoài trời kích thước 4× 8 m [2].

Các chủ thể chuỗi giá trị được nâng cao năng lực qua 3 lớp tập huấn kỹ thuật, 2 hội nghị triển khai/nghiệm thu sản phẩm trung gian, 02 hội thảo khoa học chuyên đề, 1 hội nghị công bố nhãn hiệu chứng nhận và 2 hội nghị kiểm tra, đánh giá [2].

Hiệu quả kinh tế - xã hội và định hướng nhân rộng mô hình bền vững

Khả năng ứng dụng thực tiễn của hệ thống quản lý nhãn hiệu chứng nhận được kiểm chứng qua mô hình vận hành trên quy mô 20 ha (10 ha/vụ × 2 vụ Mùa 2024 và Mùa 2025) với 25 hộ gia đình tham gia dưới sự điều phối của HTX Nông nghiệp Thắng Sơn [2].

408-202610091637143.jpg
Đại diện cơ quan chủ trì phát biểu tại hội nghị (Ảnh: PV).

Vụ Mùa 2024, năng suất bình quân đạt 3,6 tấn/ha, tổng sản lượng 36,0 tấn thóc; tổng doanh thu 828 triệu đồng, chi phí đầu tư 285 triệu đồng, lợi nhuận 543 triệu đồng (tương đương 54,30 triệu đồng/ha/vụ). Vụ Mùa 2025, năng suất tăng lên 3,9 tấn/ha, tổng sản lượng 39,0 tấn thóc; tổng doanh thu 975 triệu đồng, chi phí 295 triệu đồng, lợi nhuận 680 triệu đồng (tương đương 68,00 triệu đồng/ha/vụ). Tổng hợp qua 2 vụ, mô hình đạt tổng sản lượng 75,0 tấn thóc; tổng doanh thu 1,803 tỷ đồng, tổng chi phí 580 triệu đồng, lợi nhuận 1,223 tỷ đồng, bình quân 61,15 triệu đồng/ha/vụ [2].

Dự án thành công trong việc liên kết dữ liệu nông sinh học với công cụ quản trị hiện đại, chuyển hóa nguồn gen bản địa thành tài sản trí tuệ có giá trị thương mại. Kết quả nghiên cứu của Dự án áp dụng vào thực tế góp phần nâng cao năng lực tổ chức của HTX, chuyển đổi thói quen canh tác nhỏ lẻ sang quy trình kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt và truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Tính bền vững sau nghiệm thu được bảo đảm qua cơ chế phân cấp: UBND xã Cự Đồng tiếp tục vai trò chủ sở hữu quản lý nhà nước, phối hợp chặt chẽ với HTX Thắng Sơn duy trì cấp tem nhãn và giám sát chất lượng sản phẩm trên thị trường [2].

Định hướng phát triển trong tương lai tuân thủ nguyên tắc “mở rộng có kiểm soát”, trong đó việc gia tăng diện tích và kết nối thêm hộ sản xuất bắt buộc tuân thủ nghiêm ngặt điều kiện khoanh vùng địa lý, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy chuẩn chất lượng đã ban hành.

408-202610091637144.jpg
Thu hoạch Nếp Quạ đen Thanh Sơn (Ảnh: PV).

Tại hội nghị nghiệm thu ngày 8/10/2026, bà Chu Thị Bích Thuỷ, Phó Giám đốc Sở KH&CN tỉnh Phú Thọ cùng các thành viên Hội đồng đã đánh giá cao giá trị khoa học, tính thực tiễn và hiệu quả kinh tế vượt trội của dự án, đồng thời thống nhất xếp loại kết quả thực hiện “Đạt” [1]. Đây là nền tảng pháp lý và khoa học quan trọng để thương hiệu Nếp Quạ đen Thanh Sơn nâng cao sức cạnh tranh và khẳng định vị thế trên thị trường nông sản đặc sản Việt Nam.

“

Tài liệu tham khảo

[1] Sở KH&CN tỉnh Phú Thọ (2026), Báo cáo/Thông tin họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu Dự án khoa học cấp tỉnh: “Tạo lập và quản lý nhãn hiệu chứng nhận Nếp Quạ đen Thanh Sơn cho sản phẩm Nếp Quạ đen của tỉnh Phú Thọ”, ngày 08/10/2026.

[2] UBND tỉnh Phú Thọ (2026), Báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: “Tạo lập và quản lý nhãn hiệu chứng nhận "Nếp Quạ đen Thanh Sơn" cho sản phẩm Nếp Quạ đen của tỉnh Phú Thọ”./.

Nổi bật
    Mới nhất
    Nguồn gen quý “Nếp Quạ đen Thanh Sơn” dưới lăng kính khoa học