Truyền thông

Lạng Sơn: Đo lường hiệu quả KH&CN trong tạo sinh kế vùng biên

LB 15/09/2026 15:22

Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030 mở ra cơ hội để Lạng Sơn xây dựng hệ thống đánh giá dựa trên dữ liệu, đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số thành năng lực tạo thu nhập thực sự cho đồng bào.

Mục tiêu lớn đặt ra yêu cầu đo lường thực chất

Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới, có 83,91% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số. Địa hình rộng, dân cư phân tán, điều kiện tiếp cận hạ tầng, thị trường và dịch vụ giữa các khu vực còn chênh lệch khiến bài toán phát triển không thể chỉ giải quyết bằng một chính sách đơn lẻ. Đối với nhiều xã vùng cao, một tuyến đường, vùng phủ sóng ổn định, kỹ thuật sản xuất phù hợp hay khả năng bán hàng ngoài địa bàn đều có thể tạo ra khác biệt đáng kể đối với sinh kế của người dân.

Bối cảnh đó giải thích vì sao Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2026-2030 xác định khoa học, công nghệ (KH&CN), đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những động lực quan trọng. Theo Kế hoạch số 310/KH-UBND, đến năm 2030, tỉnh phấn đấu đưa thu nhập bình quân của người dân nông thôn lên gấp 3 lần năm 2020; thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số đạt bằng một nửa mức bình quân chung của cả nước; giảm tỷ lệ nghèo đa chiều bình quân 2% mỗi năm; có 37/61 xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó 2 xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại. Tỉnh cũng hướng tới 200 sản phẩm OCOP còn hạn, trong đó ít nhất 20 sản phẩm đạt 4 sao và một sản phẩm đạt 5 sao.

Đây là hệ mục tiêu có quan hệ chặt chẽ với nhau. Thu nhập khó tăng bền vững nếu sản xuất vẫn nhỏ lẻ, thiếu tiêu chuẩn chất lượng và phụ thuộc vào một kênh tiêu thụ. Giảm nghèo khó bền vững nếu hộ dân chỉ nhận hỗ trợ đầu vào mà không hình thành được năng lực sản xuất, quản trị và ứng phó với rủi ro. Xây dựng nông thôn mới cũng không thể chỉ dựa vào công trình hạ tầng nếu người dân chưa tiếp cận được tri thức, dịch vụ và cơ hội thị trường tương xứng.

Từ phổ cập kỹ năng số đến mở rộng cơ hội sinh kế

Lạng Sơn đã có nền tảng thuận lợi để đưa chuyển đổi số về cơ sở. Năm 2026, tỉnh triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” theo hướng trực tiếp, gần dân và ưu tiên những nhóm còn gặp khó khăn trong tiếp cận công nghệ. Theo thông tin của Sở KH&CN tỉnh Lạng Sơn, trong chưa đầy một tháng, 16 lớp tập huấn đã được tổ chức tại 65 xã, phường với 9.464 lượt người tham gia, phần lớn là thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng và đồng bào dân tộc thiểu số. Học viên được thực hành sử dụng VNeID, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán bằng mã QR và kỹ năng nhận diện hành vi lừa đảo trên mạng. Cùng thời gian, 63 tin, bài và 29 video, phóng sự về kỹ năng số đã thu hút khoảng 131.000 lượt tiếp cận.

Những con số này cho thấy quy mô triển khai và khả năng huy động mạng lưới hỗ trợ tại cơ sở. Tuy nhiên, xét từ góc độ giảm nghèo, số người dự tập huấn mới là chỉ số đầu ra, chưa phải bằng chứng cuối cùng về tác động. Cần theo dõi thêm sau ba, sáu hoặc 12 tháng: bao nhiêu người vẫn sử dụng dịch vụ số; bao nhiêu hộ tiết kiệm được thời gian, chi phí đi lại khi thực hiện thủ tục; bao nhiêu cơ sở sản xuất bắt đầu nhận thanh toán không dùng tiền mặt; bao nhiêu chủ thể sử dụng nền tảng số để tìm khách hàng, so sánh giá hoặc duy trì kênh bán hàng.

Sự chuyển dịch từ “biết dùng” sang “dùng để tạo giá trị” đặc biệt quan trọng tại xã biên giới. Người dân có thể sử dụng điện thoại thông minh thành thạo nhưng thu nhập chưa chắc tăng nếu sản phẩm không đạt tiêu chuẩn, mạng lưới vận chuyển yếu, thiếu vốn lưu động hoặc không có đơn vị thu mua. Vì vậy, phổ cập kỹ năng số phải được kết nối với khuyến nông, tín dụng, tiêu chuẩn chất lượng, logistics và tổ chức sản xuất. Tổ công nghệ số cộng đồng cũng cần phối hợp với cán bộ khuyến nông, hợp tác xã và doanh nghiệp, thay vì chỉ hỗ trợ thủ tục hành chính hoặc cài đặt ứng dụng.

Hướng đi này đã xuất hiện rõ hơn trong hoạt động khuyến nông. Tại hội thảo “Chuyển đổi số trong sản xuất, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp” tổ chức ngày 28/8/2026, Trung tâm Khuyến nông tỉnh xác định cần ưu tiên các mô hình có khả năng giảm chi phí, nâng cao chất lượng, tăng khả năng truy xuất và mở rộng thị trường. Các công cụ được đề cập gồm thương mại điện tử, mạng xã hội, phát trực tiếp, video ngắn và mã QR; đồng thời nhấn mạnh liên kết giữa cơ quan quản lý, khuyến nông, doanh nghiệp công nghệ, hợp tác xã, doanh nghiệp và người sản xuất.

Đây là cách tiếp cận phù hợp, bởi giá trị của chuyển đổi số trong nông nghiệp không nằm ở việc “đưa sản phẩm lên mạng” một cách hình thức. Một mã QR chỉ có ý nghĩa khi thông tin phía sau đáng tin cậy, được cập nhật và giúp người mua nhận biết nguồn gốc, quy trình sản xuất. Một gian hàng số chỉ tạo ra thu nhập khi có đơn hàng, tỷ lệ khách quay lại và chi phí bán hàng hợp lý. Một mô hình nông nghiệp thông minh chỉ nên được nhân rộng khi chứng minh được khả năng tiết kiệm vật tư, giảm rủi ro, cải thiện năng suất hoặc chất lượng so với cách làm trước đó.

Năm 2026, Lạng Sơn đặt mục tiêu đưa 300 sản phẩm địa phương lên các nền tảng thương mại điện tử, trong đó sản phẩm OCOP chiếm trên 10%. Giai đoạn 2021-2025, toàn tỉnh có 215 sản phẩm được đánh giá, phân hạng và cấp giấy chứng nhận OCOP từ 3 sao trở lên. Những nền tảng này mở ra cơ hội xây dựng chuỗi giá trị số cho nông sản địa phương, nhưng cũng đặt ra yêu cầu theo dõi sâu hơn: tỷ lệ sản phẩm phát sinh giao dịch, doanh thu trực tuyến, giá trị đơn hàng bình quân, phạm vi khách hàng, chi phí hoàn tất đơn hàng và tỷ lệ duy trì gian hàng sau hỗ trợ.

Bốn tầng chỉ số đo lường hiệu quả

Để trả lời thuyết phục câu hỏi KH&CN và chuyển đổi số đóng góp như thế nào cho giảm nghèo, Lạng Sơn có thể xây dựng hệ thống chỉ số theo bốn tầng liên kết.

Tầng thứ nhất là mức độ tiếp cận. Nhóm chỉ số này bao gồm chất lượng phủ sóng, tỷ lệ hộ có điện thoại thông minh phù hợp, khả năng chi trả dữ liệu, số người được tập huấn, số hộ được tiếp cận tư vấn kỹ thuật, tín dụng hoặc thiết bị. Riêng với tập huấn, cần ghi nhận tỷ lệ phụ nữ, người dân tộc thiểu số, hộ nghèo và người cao tuổi tham gia, thay vì chỉ báo cáo tổng lượt người.

Tầng thứ hai là mức độ sử dụng thực tế. Có thể đo tỷ lệ học viên còn sử dụng dịch vụ số sau tập huấn; số thủ tục được thực hiện trực tuyến; số hộ nhận thanh toán QR; số cơ sở cập nhật nhật ký sản xuất điện tử; số sản phẩm có dữ liệu truy xuất được duy trì; số hộ thường xuyên tra cứu dự báo thời tiết, dịch bệnh, giá cả hoặc hướng dẫn kỹ thuật. Đây là tầng chỉ số cho biết công cụ đã đi vào hành vi hằng ngày hay chưa.

Tầng thứ ba là thay đổi trong sản xuất và thị trường. Các chỉ số cần hướng tới gồm chi phí giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và lao động trên một đơn vị sản phẩm; năng suất; tỷ lệ hao hụt; tỷ lệ lô hàng đáp ứng tiêu chuẩn; giá bán tại hộ; số hợp đồng tiêu thụ; tỷ trọng sản lượng bán qua hợp tác xã hoặc kênh số; số thị trường mới; thời gian từ thu hoạch đến tiêu thụ. Đối với sản phẩm OCOP, nên theo dõi doanh thu và lợi nhuận, không chỉ số sao hay số gian hàng.

448-202609122141361.png
Sản phẩm OCOP Lạng Sơn góp phần nâng tầm nông sản địa phương, mở rộng thị trường và tạo sinh kế bền vững cho người dân.

Tầng thứ tư là kết quả sinh kế và giảm nghèo. Đây là tầng quyết định: thu nhập ròng của hộ thay đổi bao nhiêu; nguồn thu có đa dạng hơn không; số tháng có việc làm trong năm; tỷ lệ hộ thoát nghèo sau 12 hoặc 24 tháng; tỷ lệ tái nghèo; khả năng chống chịu khi giá nông sản giảm, thiên tai hoặc dịch bệnh xảy ra. Thu nhập cần được tính sau chi phí và nên theo dõi theo mùa vụ, bởi doanh thu tăng chưa chắc đồng nghĩa lợi nhuận tăng.

Bốn tầng chỉ số này phải được nối với nhau theo một chuỗi logic: đầu tư và tập huấn tạo điều kiện tiếp cận; tiếp cận dẫn tới sử dụng; sử dụng làm thay đổi quy trình sản xuất hoặc thị trường; những thay đổi đó cuối cùng mới có thể cải thiện thu nhập và giảm nguy cơ nghèo. Nếu một tầng bị đứt, cơ quan thực hiện có thể nhận biết vấn đề nằm ở đâu. Chẳng hạn, nhiều người hoàn thành tập huấn nhưng ít hộ phát sinh giao dịch số có thể cho thấy nội dung đào tạo chưa sát nhu cầu, sản phẩm chưa đạt chuẩn hoặc logistics chưa đáp ứng.

Đưa công nghệ vào đúng mắt xích tạo giá trị

Kế hoạch giai đoạn 2026-2030 của Lạng Sơn đã đặt khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong mối liên hệ với nông nghiệp thông minh, thôn thông minh, OCOP, kinh tế tập thể, du lịch nông thôn và phát triển thị trường. Hướng tiếp cận này chỉ phát huy đầy đủ khi công nghệ được coi là một bộ phận của chuỗi sinh kế, thay vì một hợp phần độc lập.

Điều đó đòi hỏi sự phối hợp theo cùng một mục tiêu kết quả: Sở KH&CN hỗ trợ hạ tầng, công nghệ, tiêu chuẩn và năng lực số; ngành nông nghiệp phụ trách quy trình sản xuất, khuyến nông và chất lượng; ngành công thương mở rộng thị trường và logistics; ngành dân tộc và tôn giáo bảo đảm chính sách đến đúng địa bàn, đúng đối tượng; ngân hàng cung cấp vốn phù hợp; doanh nghiệp và hợp tác xã tổ chức đầu ra. Ở cấp xã, người dân phải được tham gia từ khâu lựa chọn mô hình, xác định chỉ số đến giám sát kết quả.

Với tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao và 11 xã biên giới, Lạng Sơn cần đặc biệt chú ý tính bao trùm. Nội dung số phải dễ hiểu, phù hợp ngôn ngữ và trình độ của người sử dụng; hình thức hỗ trợ phải tính tới người cao tuổi, phụ nữ, hộ thiếu thiết bị hoặc ở vùng sóng yếu. Bảo đảm an toàn số cũng là một phần của sinh kế bền vững, bởi một vụ lừa đảo trực tuyến có thể làm mất khoản tích lũy rất lớn đối với hộ nghèo.

Chuyển đổi số sẽ có ý nghĩa nhất khi người dân cảm nhận được bằng những thay đổi cụ thể: bớt một chuyến đi làm thủ tục, giảm một phần chi phí vật tư, bán được thêm một lô hàng, nhận cảnh báo sớm để tránh thiệt hại hoặc duy trì được việc làm qua mùa giáp hạt. Khi những thay đổi ấy được đo lường nhất quán và kết nối với dữ liệu thu nhập, tỉnh sẽ có cơ sở lựa chọn đúng mô hình để mở rộng, dừng những giải pháp kém hiệu quả và điều chỉnh nguồn lực kịp thời.

Hiệu quả của Chương trình mục tiêu quốc gia cần được đo bằng những cải thiện thực chất trong đời sống người dân vùng biên: năng lực sản xuất được nâng cao, cơ hội tiếp cận thị trường được mở rộng, thu nhập ổn định và giảm nguy cơ tái nghèo. Lấy những kết quả này làm thước đo sẽ giúp định hướng đầu tư, lựa chọn giải pháp công nghệ phù hợp, qua đó phát huy vai trò của kKH&CN, chuyển đổi số trong phát triển bền vững ở Lạng Sơn.

Tài liệu tham khảo

[1] Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn (2026), Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2026-2030, thông tin về Kế hoạch số 310/KH-UBND ngày 08/8/2026.

[2] Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lạng Sơn (2026), Từ “bình dân học vụ số” đến cửa khẩu số: Lạng Sơn từng bước hình thành hệ sinh thái khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

[3] Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lạng Sơn (2026), Hội thảo “Chuyển đổi số trong sản xuất, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp”.

Nổi bật
    Mới nhất
    Lạng Sơn: Đo lường hiệu quả KH&CN trong tạo sinh kế vùng biên