Khoa học, công nghệ thúc đẩy nông thôn mới
Bộ tiêu chí giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu xây dựng nông thôn mới theo chiều sâu, trong đó khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực nâng cao thu nhập, chất lượng sống của người dân.
Từ hoàn thiện hạ tầng đến nâng chất lượng sống
Năm 2026 đánh dấu bước chuyển mới trong xây dựng nông thôn mới. Nếu những giai đoạn trước tập trung nhiều vào giao thông, điện, trường học, cơ sở y tế và thiết chế văn hóa, giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng phát triển kinh tế, nguồn nhân lực, môi trường, chuyển đổi số và khả năng thụ hưởng của người dân.
Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 gồm 10 tiêu chí, 47 chỉ tiêu. Đáng chú ý, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được xác định thành một tiêu chí riêng, bên cạnh phát triển kinh tế nông thôn, đào tạo nguồn nhân lực, giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội.

Bộ tiêu chí mới cũng phân chia các xã thành ba nhóm để phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển. Trong đó, xã nhóm 3 là xã khu vực II, khu vực III thuộc địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Cách phân nhóm góp phần khắc phục tình trạng áp dụng một yêu cầu chung cho những địa bàn có điều kiện kinh tế, hạ tầng và xuất phát điểm khác nhau.
Đối với xã nông thôn mới hiện đại, yêu cầu không chỉ là hoàn thành các công trình hạ tầng mà còn phải phát triển kinh tế trên cơ sở chuyển đổi số, xây dựng kết cấu hạ tầng thông minh, bảo đảm môi trường sống an toàn và giữ gìn bản sắc văn hóa. Mô hình nông nghiệp thông minh, sử dụng năng lượng tái tạo, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn trở thành những nội dung quan trọng trong quá trình đánh giá.
Những yêu cầu mới cho thấy xây dựng nông thôn mới đang chuyển từ mục tiêu “có công trình” sang phát huy hiệu quả công trình; từ hỗ trợ sản xuất đơn lẻ sang hình thành vùng nguyên liệu, chuỗi liên kết và thị trường tiêu thụ; từ cung cấp dịch vụ hành chính theo phương thức truyền thống sang phục vụ người dân trên môi trường số.
Tại Quảng Trị, xã Cam Lộ là một trong hai địa phương được lựa chọn thí điểm xây dựng xã nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026-2030. Qua rà soát, xã đạt 5/10 tiêu chí, gồm hạ tầng kinh tế - xã hội; đào tạo nguồn nhân lực nông thôn; văn hóa, giáo dục, y tế; giảm nghèo và an sinh xã hội; môi trường và cảnh quan nông thôn.
Năm tiêu chí chưa đạt gồm quy hoạch; phát triển kinh tế nông thôn; khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; xây dựng hệ thống chính trị và hành chính công; tiếp cận pháp luật, an ninh và quốc phòng. Chuyển đổi số tại địa phương chủ yếu mới tập trung trong hoạt động hành chính công, chưa lan tỏa mạnh sang sản xuất, du lịch và đời sống cộng đồng.
Ông Lê Anh Chương, Phó Chủ tịch UBND xã Cam Lộ cho biết: “Phương thức quản lý truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, khó đáp ứng yêu cầu điều hành hiệu quả và kịp thời”. Vì vậy, địa phương đang xây dựng mô hình xã nông thôn mới hiện đại gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; ưu tiên hoàn thiện hạ tầng số, nâng cao năng lực quản lý và mở rộng ứng dụng công nghệ vào sản xuất, du lịch, đời sống cộng đồng.
Thực tế tại Cam Lộ cho thấy một địa phương đã có nền tảng khá tốt về hạ tầng và đời sống vẫn phải tiếp tục đổi mới để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới. Việc hoàn thành tiêu chí khoa học, công nghệ và chuyển đổi số không thể chỉ tính bằng số máy tính, phần mềm hoặc tài khoản được tạo lập mà phải thể hiện ở hiệu quả quản lý, sản xuất và phục vụ người dân.
Công nghệ mở rộng giá trị kinh tế nông thôn
Một trong những tác động rõ nhất của khoa học, công nghệ đối với xây dựng nông thôn mới là khả năng nâng cao giá trị nông sản. Việc áp dụng quy trình sản xuất an toàn, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch và thương mại điện tử giúp sản phẩm địa phương tiếp cận thị trường rộng hơn.
Tại Tuyên Quang, nhiều vùng nguyên liệu và sản phẩm bản địa đang được phát triển gắn với Chương trình mỗi xã một sản phẩm. Vùng bưởi Xuân Vân hiện có hơn 1.500ha, trong đó trên 400ha bưởi đường Soi Hà được cấp chỉ dẫn địa lý. Việc áp dụng quy trình sản xuất an toàn, hình thành vùng nguyên liệu và xây dựng sản phẩm OCOP góp phần nâng cao giá trị cây trồng.
Từ nguồn nguyên liệu lá và hoa đu đủ đực, sả, hoa tam thất, Hợp tác xã Nhật Minh tại xã Tân Quang đã phát triển sản phẩm trà đạt OCOP 3 sao. Mô hình mang lại doanh thu hơn 2 tỷ đồng mỗi năm, duy trì việc làm thường xuyên cho bốn lao động với thu nhập bình quân khoảng 7 triệu đồng/người/tháng và tạo đầu ra cho các hộ cung cấp nguyên liệu.
Toàn tỉnh Tuyên Quang có 357 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên của 231 chủ thể, trong đó có ba sản phẩm OCOP 5 sao cấp quốc gia. Đến nay, sản phẩm OCOP đã hiện diện tại hơn 91 xã, phường trên địa bàn tỉnh. Những kết quả này cho thấy giá trị của sản phẩm bản địa có thể được nâng lên khi sản xuất gắn với tiêu chuẩn chất lượng, xây dựng thương hiệu, chế biến và mở rộng thị trường.
Khoa học, công nghệ cũng đang mở thêm hướng sinh kế tại các địa bàn miền núi có điều kiện sản xuất đặc thù. Trên vùng lòng hồ thủy điện tại Lai Châu, người dân và các hợp tác xã đã đầu tư lồng nuôi kiên cố, lựa chọn những giống cá có giá trị như cá lăng, cá chiên, cá nheo, cá trắm và rô phi đơn tính.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng nuôi và khai thác thủy sản của Lai Châu ước đạt 1.361 tấn, tăng 7,59% so với cùng kỳ; riêng sản lượng cá đạt 1.344,9 tấn. Tại vùng lòng hồ thủy điện Bản Chát, số lồng nuôi tăng từ 280 lồng năm 2024 lên hơn 500 lồng năm 2026, sản lượng đạt trên 700 tấn mỗi năm.
Sự gia tăng số lượng lồng nuôi mang lại nguồn thu nhưng cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát mật độ, thức ăn, chất thải và chất lượng nước. Tại một số khu vực, mật độ đã lên tới 40-50 lồng/ha mặt nước. Nếu phát triển vượt quá khả năng chịu tải, nguy cơ ô nhiễm và dịch bệnh có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất.
Ông Lê Tuấn Anh, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp, Công nghiệp, Thương mại và Du lịch Than Uyên (Lai Châu), cho biết: “Để phát triển nghề nuôi cá bền vững, chúng tôi xác định phải đặt chất lượng sản phẩm và môi trường nuôi lên hàng đầu”. Hợp tác xã hướng dẫn thành viên thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, sử dụng thức ăn bảo đảm chất lượng, theo dõi môi trường nước định kỳ và kiểm soát số lượng lồng nuôi phù hợp với khả năng chịu tải của vùng nước.
Những mô hình tại Tuyên Quang và Lai Châu cho thấy khoa học, công nghệ không nhất thiết phải bắt đầu từ những dây chuyền lớn hoặc thiết bị phức tạp. Một quy trình sản xuất an toàn, giống cây trồng, vật nuôi phù hợp, hệ thống truy xuất nguồn gốc hay kỹ thuật theo dõi môi trường đều có thể tạo ra thay đổi về năng suất, chất lượng và khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Gỡ điểm nghẽn trong xây dựng nông thôn mới
Bộ tiêu chí mới mở ra hướng phát triển cao hơn nhưng cũng tạo áp lực đối với nhiều địa phương. Những yêu cầu như hình thành vùng nguyên liệu tập trung, xây dựng mô hình nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn hoặc du lịch nông thôn cần nguồn lực, thời gian và sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Tại Quảng Trị, kết quả rà soát đối với 14 xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới năm 2026 cho thấy cả 14 xã đều chưa đạt tiêu chí phát triển kinh tế nông thôn. Một số xã miền núi chưa có vùng nguyên liệu, khu chăn nuôi tập trung hoặc mô hình kinh tế đáp ứng yêu cầu. Những địa phương có cụm công nghiệp lại gặp khó khăn về hạ tầng và hệ thống xử lý nước thải.
Thực tế này cho thấy các tiêu chí về khoa học, công nghệ và kinh tế nông thôn không thể hoàn thành bằng việc xây dựng hồ sơ hoặc triển khai một mô hình ngắn hạn. Vùng nguyên liệu phải gắn với cơ sở chế biến và thị trường; sản phẩm OCOP phải duy trì được chất lượng, doanh thu và việc làm; mô hình chuyển đổi số phải được người dân sử dụng và mang lại hiệu quả.
Ông Nguyễn Quốc Tuấn, Phó Chánh Văn phòng Điều phối nông thôn mới, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kinh tế hợp tác và Quản lý chất lượng, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị khẳng định: “Thước đo quan trọng nhất của nông thôn mới chính là thu nhập của người dân”.
Khi đời sống được nâng cao, người dân mới nhìn thấy rõ lợi ích của chương trình và chủ động tham gia xây dựng quê hương. Vì vậy, địa phương cần lựa chọn những sản phẩm có tiềm năng, tổ chức sản xuất theo chuỗi và kết nối doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia bao tiêu sản phẩm.
Quan điểm này cho thấy việc hoàn thành các tiêu chí chỉ có ý nghĩa khi tạo được sinh kế, việc làm và thu nhập bền vững. Thay vì hỗ trợ dàn trải, mỗi địa phương cần lựa chọn sản phẩm có lợi thế, tập trung hoàn thiện vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, chế biến và thị trường tiêu thụ. Chính quyền giữ vai trò kết nối, còn doanh nghiệp và hợp tác xã tổ chức sản xuất, bao tiêu sản phẩm và đưa công nghệ vào chuỗi giá trị.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, việc ứng dụng công nghệ cần phù hợp với điều kiện địa hình, trình độ lao động và khả năng đầu tư của người dân. Mô hình chỉ có thể duy trì khi người dân được hướng dẫn kỹ thuật, có đầu ra ổn định và trực tiếp nhận được lợi ích.
Khoa học, công nghệ vì vậy không phải một tiêu chí đứng riêng trong xây dựng nông thôn mới. Đây là công cụ kết nối sản xuất với thị trường, nâng cao chất lượng quản lý, bảo vệ môi trường và cải thiện dịch vụ thiết yếu. Khi công nghệ được đưa vào đúng nhu cầu, chương trình nông thôn mới mới có thể chuyển từ hoàn thiện diện mạo sang nâng cao thực chất đời sống người dân./.
