Khoa học, công nghệ mở không gian phát triển mới cho Gia Lai
Tỉnh Gia Lai đang định hướng tổ chức lại không gian kinh tế theo hướng liên kết, hiện đại và bền vững. Trong quá trình đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (ĐMST), chuyển đổi số và chuyển đổi xanh được xác định là những động lực quan trọng để nâng cao giá trị tài nguyên, đổi mới phương thức sản xuất và gia tăng sức cạnh tranh của địa phương.
Kết nối lợi thế bằng công nghệ
Tỉnh Gia Lai có những không gian kinh tế với lợi thế khác biệt nhưng bổ trợ lẫn nhau. Khu vực cao nguyên thuận lợi phát triển nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp chế biến và năng lượng tái tạo. Trong khi đó, phía đông của tỉnh có tiềm năng về kinh tế biển, cảng biển, công nghiệp và dịch vụ; khu vực biên giới mở ra cơ hội giao thương với Campuchia, Nam Lào và các thị trường trong khu vực.
Tuy nhiên, lợi thế tự nhiên và vị trí địa lý chỉ có thể chuyển hóa thành sức mạnh kinh tế khi được kết nối bằng hạ tầng đồng bộ, công nghệ phù hợp và phương thức tổ chức sản xuất hiện đại. Nông sản cần được nâng cao chất lượng, truy xuất nguồn gốc và chế biến sâu; hoạt động logistics cần giảm chi phí, rút ngắn thời gian lưu thông; đô thị và khu kinh tế cần được quản lý hiệu quả hơn trên nền tảng dữ liệu số.

Theo Nghị quyết số 345/NQ-HĐND ngày 16/7/2026 về điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Gia Lai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, tỉnh định hướng xây dựng mô hình tăng trưởng hiện đại, bền vững, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số (KHCN, ĐMST, CĐS) và chuyển đổi xanh làm động lực chủ yếu [1].
Giai đoạn 2026-2030, Gia Lai đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 10,5%/năm; trong đó, công nghiệp - xây dựng tăng khoảng 13%/năm, dịch vụ khoảng 10,5%/năm và nông, lâm nghiệp, thủy sản khoảng 5%/năm [1]. Những mục tiêu này đòi hỏi tỉnh không chỉ mở rộng quy mô sản xuất mà còn phải nâng cao năng suất, chất lượng và hàm lượng công nghệ trong từng ngành kinh tế.
Nâng giá trị nông sản bằng khoa học, công nghệ
Nông nghiệp tiếp tục là một trong những nền tảng quan trọng của kinh tế Gia Lai với các sản phẩm chủ lực như cà phê, hồ tiêu, cao su và cây ăn quả. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn môi trường, lợi thế về diện tích và sản lượng cần được bổ sung bằng năng lực quản lý vùng nguyên liệu, ứng dụng kỹ thuật và chế biến sâu.
Công nghệ có thể tham gia xuyên suốt chuỗi sản xuất, từ lựa chọn giống, quản lý nước và dinh dưỡng đến thu hoạch, bảo quản, chế biến và phân phối. Các giải pháp như tưới tiết kiệm, giám sát điều kiện canh tác, quản lý dữ liệu vùng trồng và kiểm soát chất lượng sau thu hoạch cần được lựa chọn phù hợp với từng loại cây trồng, quy mô sản xuất và điều kiện đầu tư.
Đặc biệt, truy xuất nguồn gốc và số hóa dữ liệu vùng trồng giúp tăng tính minh bạch của sản phẩm, hỗ trợ doanh nghiệp kiểm soát nguyên liệu và đáp ứng yêu cầu thị trường. Tỉnh Gia Lai đã triển khai Kế hoạch số 149/KH-UBND ngày 18/5/2026 về truy xuất nguồn gốc nông sản, ưu tiên các sản phẩm chủ lực, nông sản xuất khẩu và những mặt hàng cần tăng cường kiểm soát chất lượng [2].
Tuy nhiên, truy xuất nguồn gốc không chỉ dừng ở việc gắn mã QR trên bao bì. Dữ liệu cần được cập nhật xuyên suốt từ sản xuất, thu hoạch đến sơ chế, chế biến và phân phối. Khi thông tin được quản lý nhất quán, người sản xuất có điều kiện chuẩn hóa quy trình, DN nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng, còn cơ quan quản lý thuận lợi hơn trong giám sát và truy xuất sản phẩm.
Cùng với đó, công nghiệp chế biến cần trở thành khâu quan trọng để gia tăng giá trị nông sản tại địa phương. Công nghệ phân loại, bảo quản, kiểm soát chất lượng và cải tiến dây chuyền có thể giúp giảm tổn thất, tiết kiệm nguyên liệu và đa dạng hóa sản phẩm. Việc phát triển chế biến sâu cần gắn với vùng nguyên liệu ổn định, nhu cầu thị trường và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn thực phẩm và môi trường.
Để công nghệ đi vào sản xuất hiệu quả, cần tăng cường liên kết giữa DN, hợp tác xã, cơ sở nghiên cứu và tổ chức chuyển giao công nghệ. Các giải pháp được lựa chọn phải giải quyết được những vấn đề cụ thể, có chi phí phù hợp, dễ vận hành và đem lại hiệu quả kinh tế có thể đánh giá. Đây là điều kiện để ĐMST không chỉ dừng ở các mô hình riêng lẻ mà trở thành năng lực thường xuyên của DN và người sản xuất.
Hiện đại hóa logistics, phát triển đô thị thông minh
Trong không gian phát triển mới, Khu kinh tế Nhơn Hội được xác định là hạt nhân động lực của khu vực phía đông, gắn với đô thị Quy Nhơn mở rộng, cảng biển, sân bay, các khu công nghiệp và du lịch. Trong khi đó, Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh giữ vai trò quan trọng trong kết nối giao thương với Campuchia, Nam Lào và không gian ASEAN lục địa [1].
Với khu vực ven biển, ứng dụng công nghệ trong quản lý hạ tầng, tổ chức vận chuyển và sử dụng năng lượng hiệu quả có thể hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh. Tại khu vực cửa khẩu, số hóa thủ tục, quản lý dữ liệu hàng hóa và kết nối thông tin giữa các khâu xuất nhập khẩu có thể góp phần giảm thao tác trùng lặp, nâng cao tính minh bạch và cải thiện hiệu quả phục vụ DN.
Định hướng phát triển thương mại cửa khẩu, logistics biên giới, kho bãi và trung chuyển nông sản tại Lệ Thanh đặt ra yêu cầu hiện đại hóa phương thức quản lý. Tuy nhiên, hiệu quả CĐS phụ thuộc vào khả năng liên thông dữ liệu, mức độ đồng bộ của hạ tầng và năng lực vận hành của các đơn vị. Vì vậy, đầu tư công nghệ cần đi cùng chuẩn hóa quy trình, đào tạo nhân lực và bảo đảm an toàn thông tin.
Ở khu vực đô thị, dữ liệu số có thể hỗ trợ quản lý giao thông, hạ tầng kỹ thuật, cấp thoát nước và các dịch vụ công. Khi dữ liệu được cập nhật, chuẩn hóa và kết nối, cơ quan quản lý có thêm cơ sở theo dõi tình trạng công trình, phát hiện bất cập và nâng cao hiệu quả điều hành.
Kế hoạch CĐS tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030, ban hành kèm Quyết định số 4155/QĐ-UBND ngày 1/10/2026, hướng tới phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, gắn với nâng cao chất lượng phục vụ người dân, DN [3]. Đây là cơ sở để tiếp tục thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong quản trị, sản xuất và cung cấp dịch vụ.
Cùng với CĐS, phát triển công nghiệp và đô thị cần gắn với chuyển đổi xanh. Các giải pháp giám sát môi trường, quản lý năng lượng, cải tiến quy trình sản xuất và sử dụng hiệu quả nguyên liệu có thể góp phần giảm chi phí, hạn chế tác động môi trường và nâng cao tính bền vững. Đối với khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phát triển hạ tầng số và kỹ năng số cũng có ý nghĩa quan trọng trong mở rộng khả năng tiếp cận thông tin, dịch vụ công và cơ hội kinh tế.
Biến quy hoạch thành năng lực đổi mới sáng tạo
Quy hoạch xác định không gian và ưu tiên phát triển, nhưng kết quả thực tế phụ thuộc vào khả năng chuyển các định hướng thành dự án, sản phẩm và năng lực sản xuất cụ thể. Với tỉnh Gia Lai, KHCN và ĐMST cần được triển khai theo nhu cầu của từng ngành, từng vùng; đồng thời tăng cường kết nối giữa nghiên cứu, chuyển giao và thị trường.
Trước hết, cần xác định những khâu còn hạn chế về công nghệ trong các chuỗi sản xuất chủ lực để ưu tiên nhiệm vụ nghiên cứu, chuyển giao có khả năng giải quyết trực tiếp nhu cầu của DN và người dân. Hạ tầng số, giao thông, năng lượng và logistics cũng cần được phát triển đồng bộ, tạo điều kiện để công nghệ phát huy hiệu quả trên toàn chuỗi giá trị.
Hiệu quả ứng dụng KHCN cần được đánh giá bằng những kết quả thực chất như năng suất lao động tăng, chi phí sản xuất giảm, chất lượng sản phẩm được cải thiện và tài nguyên được sử dụng hiệu quả hơn. Cùng với đó, phát triển nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận công nghệ mới sẽ là điều kiện quan trọng để duy trì hiệu quả đầu tư lâu dài.
Với định hướng đến năm 2030 và tầm nhìn năm 2050, tỉnh Gia Lai có cơ hội hình thành cấu trúc kinh tế trong đó nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo, logistics, du lịch và dịch vụ số hỗ trợ lẫn nhau. Khi không gian cao nguyên, duyên hải và biên giới được kết nối bằng hạ tầng hiện đại, dữ liệu và các chuỗi giá trị có sức cạnh tranh, KHCN và ĐMST sẽ góp phần chuyển lợi thế địa lý thành lợi thế kinh tế, tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững./.
Tài liệu tham khảo
[1] HĐND tỉnh Gia Lai (2026), Nghị quyết số 345/NQ-HĐND ngày 16/7/2026 thông qua điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Gia Lai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
[2] UBND tỉnh Gia Lai (2026), Kế hoạch số 149/KH-UBND ngày 18/5/2026 về truy xuất nguồn gốc nông sản trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
[3] UBND tỉnh Gia Lai (2026), Quyết định số 4155/QĐ-UBND ngày 1/10/2026 ban hành Kế hoạch chuyển đổi số tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030.
