Góc nhìn pháp lý về chữ "Tín" trong hoạt động kinh doanh, thương mại thời chuyển đổi số
Không thể chối bỏ rằng uy tín là yếu tố sống còn của mỗi cá nhân, doanh nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Việc giữ chữ tín phải được xem là chiến lược cạnh tranh cốt lõi để đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

“Một lần bất tín, vạn lần bất tin”
Trong hoạt động kinh doanh, chữ “Tín” là thước đo niềm tin và cũng là tài sản vô hình tạo nên lòng tin thương mại. Lòng tin là vốn xã hội của doanh nghiệp (DN), hay nói cách khác, lòng tin là nền tảng cốt lõi để xây dựng uy tín thương hiệu. Trên thực tế, giá trị của lòng tin từ các đối tác và khách hàng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hợp tác, mở rộng thị trường và duy trì lợi nhuận bền vững của DN.
Về mặt hệ quả, hành vi “bất tín” như không thực hiện đúng cam kết, cố tình che giấu thông tin quan trọng hoặc cung cấp sản phẩm kém chất lượng, không chỉ là sự thiếu sót về mặt đạo đức cá nhân mà còn dẫn đến những tổn thất tài chính nghiêm trọng của DN.
Khi niềm tin bị xói mòn, DN sẽ phải đối mặt với chi phí giao dịch cao hơn, mất đi các hợp đồng tiềm năng và đặc biệt là bị tẩy chay, lên án từ cộng đồng. Điều này được thể hiện qua nhiều vụ bê bối đình đám khiến các thương hiệu bị hủy hoại như vụ Khaisilk (2017) bán hàng Trung Quốc gắn mác "made in Vietnam", trong đó ghi nhận những thiệt hại về uy tín thương hiệu vượt ngoài khả năng bù đắp của tài chính. Chính vì vậy, để DN hoạt động và phát triển bền vững, việc giữ chữ tín luôn cần được xem là chiến lược cạnh tranh kinh doanh thiết yếu, lâu dài.
Pháp luật nước ta quy định về việc tuân thủ chữ tín trong giao dịch kinh doanh, thương mại
Trên thực tế, các khía cạnh về uy tín, niềm tin được quy định cụ thể trong các điều khoản pháp lý liên quan đến hoạt động kinh doanh, thương mại. Đầu tiên, có thể kể đến khái niệm chữ tín trong kinh doanh được pháp luật Việt Nam cụ thể hóa thông qua nguyên tắc “Thiện chí và Trung thực” trong các giao dịch dân sự và thương mại.
Cụ thể, khoản 3 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rõ: “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.” Tương tự, Điều 6 và Điều 14 Luật Thương mại năm 2005 yêu cầu thương nhân phải hành xử thiện chí trong mọi hoạt động thương mại.
Nguyên tắc này bao trùm toàn bộ quá trình giao dịch, từ giai đoạn đàm phán, cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực cho đến giai đoạn thực hiện cam kết và cả giai đoạn giải quyết tranh chấp phát sinh (nếu có). Nếu một bên vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc thiện chí, trung thực, chẳng hạn như lừa dối trong giao kết hợp đồng thì họ có thể phải đối mặt với các chế tài pháp lý nghiêm khắc, bao gồm việc hợp đồng bị tuyên vô hiệu do lừa dối, bị hủy bỏ theo Điều 124 và Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2015, hoặc phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Bộ luật Dân sự, đảm bảo rằng bên bị thiệt hại được khôi phục lợi ích hợp pháp.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, chữ tín ngày càng được chú trọng và xác lập trong các văn bản quy phạm pháp luật, dần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về bảo vệ các bên liên quan trong giao dịch điện tử (GDĐT) trước các hành vi xâm phạm. Tại Điều 6 Luật GDĐT năm 2023, các hành vi bị nghiêm cấm là biểu hiện rõ ràng nhằm đảm bảo trực tiếp quyền lợi của người bị hại, đối với hành vi vi phạm trong môi trường số.
Cụ thể, các hành vi như giả mạo, làm sai lệch, xóa, hủy, sao chép trái pháp luật thông điệp dữ liệu (khoản 4) hay gian lận, giả mạo, chiếm đoạt, sử dụng trái pháp luật tài khoản, chứng thư, chữ ký điện tử (khoản 6) đều nhắm trực tiếp vào việc phá vỡ tính toàn vẹn, xác thực của giao dịch. Trường hợp thông điệp dữ liệu bị lộ, các thông tin cung cấp có thể sai lệch hoặc danh tính bị giả mạo thì gần như toàn bộ sự tin tưởng trong giao dịch sẽ sụp đổ, gây ảnh hưởng đến lợi ích của các bên, và thậm chí là an ninh quốc gia (khoản 1).
Hay tại khoản 3 Điều 16 Luật An ninh mạng năm 2018, việc tuân thủ chữ tín còn được mở rộng ra phạm vi bảo vệ danh dự và uy tín của chủ thể trên không gian mạng. Lòng tin của đối tác và khách hàng đối với cá nhân, DN được xây dựng dựa trên sự thật và thông tin xác thực. Do đó, hành vi xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm hay thông tin bịa đặt, sai sự thật nhằm xâm phạm danh dự, uy tín sẽ bị xử lý nghiêm.
Qua đó, khẳng định chữ tín không chỉ là cam kết đạo đức mà còn là yêu cầu pháp lý về tính chân thật và sự trung thực của các bên khi tham gia giao dịch. Nhìn chung, Luật GDĐT và Luật An ninh mạng là cơ sở pháp lý để ngăn chặn việc sử dụng không gian mạng nhằm thực hiện các giao dịch trái pháp luật, phá hoại uy tín thương hiệu hoặc gây thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân bằng thông tin giả.
Một số khuyến nghị
Tại Việt Nam, trong thời gian gần đây nhiều vi phạm về uy tín, niềm tin đối với các hoạt động kinh doanh, thương mại đã xảy ra với mật độ thường xuyên. Đơn cử như nhiều nghệ sĩ nổi tiếng và có sức ảnh hưởng (KOLs) bị phanh phui việc lợi dụng uy tín cá nhân để quảng cáo, kinh doanh các sản phẩm không rõ nguồn gốc, bán hàng giả, hàng kém chất lượng. Tiêu biểu như trong năm 2025, vụ việc các KOLs bán kẹo rau Kera giả, không có 10 loại bột rau củ như quảng cáo là điển hình cho việc lừa dối khách hàng, đánh đổi lòng tin gây ra thiệt hại sức khỏe và tài chính cho hàng nghìn người tín nhiệm tiêu dùng.
Để củng cố và tuân thủ chữ tín trong hoạt động kinh doanh, thương mại theo khuôn khổ pháp lý, dưới đây là một số khuyến nghị mà các cá nhân, DN trong và ngoài nước có thể tham khảo áp dụng trong thời gian tới.
Một là, xây dựng hệ thống quản lý nội bộ chặt chẽ, đảm bảo tất cả nhân viên hiểu rõ và tuân thủ nghĩa vụ thiện chí, trung thực, đặc biệt trong việc công bố thông tin và quảng cáo.
Theo đó, tổ chức, DN cần chủ động đào tạo đội ngũ nhân sự về trách nhiệm pháp lý khi sử dụng không gian mạng, tập trung nghiêm cấm các hành vi phát tán thông tin bịa đặt, vu khống làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của đối tác và khách hàng, tuân thủ nghiêm ngặt và đề cao việc đảm bảo tính toàn vẹn và xác thực của mọi thông điệp dữ liệu.
Hai là, chuẩn hóa quy trình giao kết hợp đồng, ghi nhận đầy đủ các điều khoản liên quan đến chất lượng, thời hạn, và chế tài vi phạm, làm nền tảng pháp lý giải quyết khi có tranh chấp xảy ra.
Về lâu dài, các DN nên đầu tư vào công nghệ bảo mật để bảo vệ dữ liệu trên môi trường số, phù hợp với xu hướng số hóa dữ liệu đối với lưu trữ văn bản, thỏa thuận, hợp đồng.
Ba là, thiết lập văn hóa ứng xử và giải quyết tranh chấp theo hướng minh bạch khi khó khăn và thiện chí khi mâu thuẫn.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu gặp khó khăn, trở ngại, doanh nghiệp cần duy trì sự minh bạch, chủ động thông báo ngay lập tức cho đối tác về bất kỳ rủi ro hoặc thay đổi nào có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện cam kết.
Mặt khác, khi phát sinh mâu thuẫn, thay vì tìm cách trốn tránh trách nhiệm, các cá nhân, DN nên cùng nhau ngồi lại giải quyết tranh chấp trên tinh thần hợp tác, thiện chí thông qua đàm phán hoặc hòa giải, trước khi tiến hành các thủ tục tố tụng. Về lâu dài, vừa giữ được uy tín trong hợp tác, vừa giúp tối ưu hóa chi phí pháp lý cho DN./.
