Giải pháp quản lý khu bảo tồn biển
Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp cùng Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam và Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) tổ chức chuỗi hội thảo kỹ thuật quốc gia “Giải pháp thiết lập và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn biển (KBTB) Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050” và “Tổng kết thực hiện Kế hoạch hành động bảo tồn rùa biển tại Việt Nam giai đoạn 2016-2025 và định hướng giải pháp giai đoạn 2026 - 2035”.

Hội thảo tập trung đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch hệ thống KBTB Việt Nam đến năm 2025 và kế hoạch giai đoạn 2026 - 2030, nhận diện những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện chính sách; đề xuất các giải pháp khả thi về thể chế, tổ chức quản lý, huy động nguồn lực và sự tham gia của các bên liên quan trong công tác bảo tồn biển và bảo tồn rùa biển. Hội thảo cũng giới thiệu và xin ý kiến các bên về dự thảo Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý KBTB ở Việt Nam.
Khu bảo tồn biển: Thiết chế quản trị quan trọng
Biển và vùng ven biển Việt Nam là không gian sinh thái, kinh tế và sinh kế đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là nơi có giá trị cao về đa dạng sinh học, mà còn là nền tảng góp phần cho phát triển các ngành kinh tế biển, bảo đảm sinh kế cho khoảng 20 triệu người dân ven biển và tăng khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Trong bối cảnh áp lực khai thác tài nguyên, suy thoái môi trường và rủi ro khí hậu ngày càng gia tăng, các KBTB ngày càng được nhìn nhận không chỉ như một công cụ bảo tồn, mà còn là một thiết chế quản trị quan trọng để duy trì chức năng sinh thái, hỗ trợ quản lý nghề cá bền vững và bảo vệ nền tảng tự nhiên cho phát triển dài hạn.
Việt Nam đã thành lập 7 KBTB (Bạch Long Vỹ, Cô Tô - Đảo Trần, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Hòn Cau, Cà Mau, Phú Quốc), 5 khu vực biển được quản lý trong Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên (Cát Bà, Bái Tử Long, Núi Chúa, Côn Đảo, Cù Lao Chàm) với tổng diện tích vùng biển được khoanh vùng bảo tồn khoảng 215.191 ha, chiếm khoảng 0,215% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia.
Bên cạnh đó, 7 khu vực biển đang được các địa phương lập dự án thành lập KBTB theo pháp luật thuỷ sản (Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Cát Bà - Long Châu, Hòn Ngư - Đảo Mắt, vịnh Quy Nhơn, vịnh Nha Trang, Phú Quý). Dự kiến hết năm 2026 sẽ có 14/27 KBTB được thành lập theo Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thuỷ sản thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Việt Nam đặt mục tiêu diện tích các KBTB, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia vào năm 2030. Tuy nhiên, thách thức hiện nay không chỉ là mở rộng diện tích, mà còn là bảo đảm nguồn lực quản lý, đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng cường phối hợp liên ngành và xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá hiệu quả quản lý thống nhất.
Kết hợp giữa các khung phương pháp luận quốc tế với bối cảnh pháp lý - quản lý cụ thể của Việt Nam
Tại hội thảo, các đại biểu trình bày kết quả thực hiện quy hoạch hệ thống KBTB, chia sẻ kinh nghiệm của các địa phương trong quá trình thành lập, điều chỉnh ranh giới diện tích KBTB, kinh nghiệm quản lý KBTB của quốc tế và thảo luận về các nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện hiệu quả nội dung về bảo tồn biển giai đoạn 2026 -2030 theo Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Hội thảo cũng giới thiệu dự thảo Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý KBTB tại Việt Nam đang được Cục Thủy sản và Kiểm ngư chủ trì hoàn thiện, với sự hỗ trợ kỹ thuật từ UNDP. Bộ chỉ số là sự kết hợp giữa các khung phương pháp luận quốc tế, cách tiếp cận hệ sinh thái và bối cảnh pháp lý - quản lý cụ thể của Việt Nam.
Bộ chỉ số này bao gồm 24 chỉ số, được phân bổ theo 5 nhóm nội dung, phản ánh các hợp phần chính của công tác quản lý KBTB từ quản trị, lập kế hoạch, nguồn lực, quá trình thực hiện đến kết quả và tác động của công tác bảo tồn biển.
Hội thảo cũng thảo luận về vai trò và sự tham gia của các tổ chức ngoài công lập trong công tác quản lý KBTB. Quản lý KBTB là lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực lớn, đa dạng về chuyên môn, trong khi ngân sách nhà nước còn hạn chế. Việc thu hút các tổ chức ngoài công lập tham gia quản lý KBTB ở Việt Nam giúp bổ sung nguồn lực, tăng tính linh hoạt và đổi mới trong quản trị, là xu hướng phổ biến trong quản trị tài nguyên theo hướng xã hội hóa, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý KBTB, thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
Nếu được triển khai đúng hướng, đây không chỉ là một bước tiến về mặt quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn biển, mà còn là nền tảng để gắn bảo tồn với phát triển kinh tế biển bền vững, phục hồi nguồn lợi, tăng khả năng chống chịu của vùng biển ven bờ, ven đảo và bảo đảm sinh kế cộng đồng trong dài hạn. Từ đó, đóng góp chung vào mục tiêu phát triển bền vững ngành kinh tế biển tại Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
Tỷ lệ tử vong của rùa biển tại Việt Nam vẫn ở mức đáng lo ngại
Cũng tại hội thảo, ông Nguyễn Quang Hùng, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, cho biết: Hệ sinh thái biển và ven biển không chỉ là nền tảng duy trì đa dạng sinh học mà còn là nơi cư trú, sinh sản của nhiều loài thủy sinh quý hiếm. Việc bảo tồn các hệ sinh thái này thông qua phát triển hiệu quả hệ thống KBTB, chính là giải pháp then chốt để bảo vệ các loài, phục hồi nguồn lợi và bảo đảm phát triển kinh tế biển bền vững trong dài hạn.
Một phiên chuyên đề về bảo tồn rùa biển do Cục Thủy sản và Kiểm ngư cùng IUCN đồng chủ trì đã rà soát kết quả thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn rùa biển giai đoạn 2016 - 2025, cập nhật các nghiên cứu và hoạt động liên quan, đồng thời thảo luận các ưu tiên cho giai đoạn 2026 - 2035. Thực tế cho thấy, tỷ lệ tử vong của rùa biển tại Việt Nam vẫn ở mức đáng lo ngại, chủ yếu do đánh bắt không chủ ý từ các nghề lưới kéo, lưới rê và câu, đặc biệt tại các khu vực trọng điểm như Cù Lao Chàm, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Núi Chúa và Côn Đảo. Bên cạnh đó, rùa biển tiếp tục đối mặt với các áp lực như mất sinh cảnh do phát triển du lịch, ô nhiễm rác thải nhựa và tác động của biến đổi khí hậu./.
