Đề xuất hình thành Cổng truy cập tài nguyên giáo dục mở quốc gia có kiểm soát
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến đối với dự thảo Thông tư quy định về khai thác, sử dụng tài nguyên giáo dục mở trong hoạt động giáo dục đại học. Tài nguyên giáo dục mở phải phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về giáo dục, khoa học và công nghệ, sở hữu trí tuệ và chuyển đổi số.
Tạo hành lang pháp lý cho học liệu mở
Dự thảo Thông tư được xây dựng trên cơ sở Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học (ĐH) và các văn bản pháp luật có liên quan; đồng thời cụ thể hóa định hướng tại Quyết định số 1117/QĐ-TTg ngày 25/9/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình xây dựng mô hình nguồn tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học.
Việc ban hành văn bản này được kỳ vọng góp phần khắc phục tình trạng phát triển học liệu số còn phân tán, thiếu liên thông, thiếu cơ chế chuẩn hóa về chất lượng, bản quyền, giấy phép sử dụng và trách nhiệm của các bên tham gia.

Một trong những điểm mới đáng chú ý của dự thảo là đề xuất hình thành Cổng truy cập tài nguyên giáo dục mở quốc gia. Theo đó, đây là hệ thống thông tin trực tuyến do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, có chức năng kết nối, tích hợp, giới thiệu, cung cấp, tìm kiếm, truy cập và chia sẻ tài nguyên giáo dục mở từ các cơ sở giáo dục và các nguồn hợp pháp khác trong nước, quốc tế, nhằm phục vụ mục tiêu phát triển giáo dục mở và thúc đẩy học tập suốt đời.
Trong bối cảnh chuyển đổi số (CĐS) đang diễn ra mạnh mẽ, giáo dục ĐH không chỉ cần đổi mới phương thức giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá, mà còn phải đổi mới cách thức tổ chức, quản lý và chia sẻ tri thức. Nếu trước đây, giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo chủ yếu lưu hành trong phạm vi từng trường, từng khoa, từng thư viện, thì hiện nay yêu cầu đặt ra là hình thành một hệ sinh thái học liệu có khả năng dùng chung, truy cập thuận lợi, cập nhật thường xuyên và được quản lý theo chuẩn mực học thuật.
Theo dự thảo, tài nguyên giáo dục mở là học liệu mở phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu ở bất kỳ định dạng và phương tiện nào; tồn tại trong phạm vi công cộng hoặc thuộc quyền sở hữu bản quyền nhưng đã được phát hành theo giấy phép mở.
Người sử dụng được phép truy cập để giữ lại, sử dụng lại, sửa đổi, kết hợp lại và phân phối lại theo điều kiện của giấy phép mở. Học liệu mở có thể bao gồm giáo trình, bài giảng của giảng viên, học liệu tham khảo, khóa học trực tuyến đại chúng mở, học liệu đa phương tiện, phần mềm mã nguồn mở hoặc dữ liệu học tập.
Cách tiếp cận này cho thấy, “mở” không có nghĩa là sử dụng tùy tiện, không cần kiểm soát hoặc không chịu trách nhiệm pháp lý.
Trái lại, tài nguyên giáo dục mở phải đặt trong khuôn khổ về quyền tác giả, sở hữu trí tuệ (SHTT), giấy phép sử dụng, trích dẫn nguồn, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong môi trường số, khi việc sao chép, chỉnh sửa, chia sẻ học liệu diễn ra nhanh chóng, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ vi phạm bản quyền, xuyên tạc nội dung học thuật hoặc sử dụng tài nguyên sai mục đích.
Dự thảo quy định rõ các nguyên tắc xây dựng, phát triển tài nguyên giáo dục mở. Theo đó, tài nguyên giáo dục mở phải phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về giáo dục, khoa học và công nghệ, SHTT và CĐS; thúc đẩy bình đẳng trong tiếp cận giáo dục; góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, hiệu quả giảng dạy, học tập, nghiên cứu và hỗ trợ học tập suốt đời.
Đồng thời, việc phát triển tài nguyên giáo dục mở phải bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu, tính bền vững về hạ tầng kỹ thuật, cũng như quyền của tác giả và chủ sở hữu trong lựa chọn giấy phép mở phù hợp.
Thúc đẩy bình đẳng trong tiếp cận tri thức
Đối với yêu cầu chất lượng, tài nguyên giáo dục mở sử dụng trong giáo dục ĐH phải phù hợp mục tiêu, nội dung chương trình hoặc ngành đào tạo; có tính cập nhật; đáp ứng yêu cầu thực tiễn giảng dạy, học tập và nghiên cứu.
Tài nguyên phải được gắn giấy phép mở hợp lệ, bảo đảm minh bạch về quyền tác giả, quyền liên quan; có tính khoa học, tính sư phạm, độ tin cậy; cấu trúc rõ ràng, dễ sử dụng, thuận lợi cho việc tích hợp vào hoạt động đào tạo.
Đồng thời, các cơ sở đào tạo được yêu cầu tổ chức thẩm định tài nguyên giáo dục mở trước khi công bố và đưa vào sử dụng chính thức. Nội dung thẩm định bao gồm sự phù hợp với mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo; tính khoa học, chính xác, cập nhật; tính sư phạm và khả năng áp dụng trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu; việc tuân thủ quy định về SHTT, giấy phép mở và các quy định pháp luật có liên quan.
Người đứng đầu cơ sở đào tạo có trách nhiệm ban hành quy định nội bộ, quy trình, tiêu chí, hồ sơ và điều kiện thẩm định phù hợp với loại hình, phạm vi, mục đích sử dụng của tài nguyên.
Quy định về thẩm định có ý nghĩa quan trọng, bởi tài nguyên giáo dục mở nếu không được kiểm soát chất lượng có thể dẫn tới tình trạng sai lệch tri thức, thiếu chuẩn mực học thuật hoặc gây khó khăn trong công nhận, chuyển đổi kết quả học tập.
Trong giáo dục ĐH, nhất là các lĩnh vực khoa học, công nghệ, y dược, kỹ thuật, kinh tế, luật và khoa học xã hội, tính chính xác và cập nhật của học liệu tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo.
Gắn tài nguyên giáo dục mở với đào tạo linh hoạt
Một nội dung quan trọng khác là trách nhiệm kết nối, tích hợp và cập nhật tài nguyên giáo dục mở đã công bố lên Cổng truy cập tài nguyên giáo dục mở quốc gia. Các cơ sở đào tạo phải bảo đảm tính thống nhất về cấu trúc dữ liệu, khả năng tìm kiếm, khai thác và kết nối liên thông theo hướng dẫn kỹ thuật của cơ quan có thẩm quyền.
Nếu được triển khai hiệu quả, quy định này sẽ góp phần hình thành kho dữ liệu học liệu mở dùng chung trên phạm vi toàn quốc, giúp giảm đầu tư trùng lặp, tăng khả năng chia sẻ nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng học liệu trong toàn hệ thống.
Đối với người học, Cổng truy cập tài nguyên giáo dục mở quốc gia mở ra cơ hội tiếp cận tri thức rộng hơn. Sinh viên ở các cơ sở đào tạo khác nhau có thể tìm kiếm, khai thác học liệu phù hợp; người đã đi làm có thêm điều kiện cập nhật kiến thức; giảng viên có nguồn tham khảo để đổi mới phương pháp giảng dạy; nhà nghiên cứu có thêm dữ liệu, tài liệu phục vụ hoạt động học thuật. Điều này phù hợp với xu hướng xây dựng xã hội học tập, trong đó mỗi người dân đều có cơ hội học tập thường xuyên, liên tục, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.
Dự thảo quy định quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong khai thác, sử dụng tài nguyên giáo dục mở. Người sử dụng có quyền truy cập, sao chép, chia sẻ, sử dụng lại, chỉnh sửa, kết hợp tài nguyên theo phạm vi được phép; sử dụng tài nguyên phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và các mục đích hợp pháp khác.
Tuy nhiên, người sử dụng cũng phải tuân thủ đầy đủ điều kiện của giấy phép mở, ghi rõ tên tác giả, nguồn gốc tài nguyên, tôn trọng quyền SHTT, không sử dụng tài nguyên vào mục đích vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc xuyên tạc nội dung học thuật.
Đối với các cơ sở giáo dục ĐH, dự thảo đặt ra yêu cầu xây dựng kế hoạch phát triển tài nguyên giáo dục mở theo từng giai đoạn; ban hành quy định nội bộ về xây dựng, lựa chọn, thẩm định, công bố, chia sẻ, khai thác, sử dụng, quản lý và lưu trữ tài nguyên; bảo đảm nguồn lực nhân sự, tài chính, hạ tầng công nghệ thông tin.
Các trường cũng phải có chính sách khuyến khích giảng viên, sinh viên tham gia xây dựng, phát triển, thẩm định, công bố, chia sẻ và sử dụng tài nguyên giáo dục mở; đồng thời có cơ chế ghi nhận, đánh giá đóng góp gắn với thi đua, khen thưởng.
Đây là điểm cần được chú trọng trong quá trình triển khai. Phát triển tài nguyên giáo dục mở không thể chỉ dựa trên yêu cầu hành chính, mà cần trở thành hoạt động chuyên môn có động lực, có ghi nhận và có lợi ích thiết thực đối với đội ngũ giảng viên, nhà khoa học, người học.
Giảng viên là lực lượng trực tiếp tạo ra phần lớn học liệu có chất lượng; nếu không có cơ chế bảo vệ quyền tác giả, hỗ trợ kỹ thuật và ghi nhận đóng góp, việc chia sẻ học liệu khó có thể trở thành hoạt động bền vững./.
