KH&CN địa phương

Cần Thơ: Ứng dụng công nghệ nâng cao chuỗi giá trị lươn đồng thương phẩm

PV • 28/09/2026 07:29

Với việc ứng dụng công nghệ, đặc biệt là công nghệ Internet vạn vật (IoT) kết hợp với kỹ thuật plasma lạnh đã giúp tỷ lệ sống của lươn đồng giống đạt trên 80%, đồng thời xây dựng thành công mô hình nuôi lươn đồng thương phẩm… Đây là những kết quả nổi bật của dự án “Ứng dụng công nghệ IoT kết hợp kỹ thuật plasma lạnh trong sản xuất giống và xây dựng chuỗi giá trị lươn đồng thương phẩm tại tỉnh Sóc Trăng” do Trường Thủy sản (Đại học Cần Thơ) chủ trì thực hiện vừa được Hội đồng khoa học của Sở KH&CN TP. Cần Thơ nghiệm thu.

Tháo gỡ điểm nghẽn trong sản xuất lươn giống

PGS. TS. Dương Nhựt Long, Trường Thủy sản (Đại học Cần Thơ) cho biết, lươn đồng là đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao. Hàm lượng chất dinh dưỡng có trong lươn đồng cao, rất bổ ích cho người tiêu dùng.

Bên cạnh Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là những quốc gia có người tiêu dùng rất ưa thích. Tuy nhiên, để phát triển nghề nuôi lươn đồng theo hướng ổn định, việc kiểm soát chất lượng con giống, môi trường nước và quy trình kỹ thuật có ý nghĩa quyết định.

Với thế mạnh trong đào tạo và nghiên cứu khoa học về lĩnh vực thủy sản, PGS. TS. Dương Nhựt Long và các cộng sự thuộc Trường Thủy sản đã tiến hành khảo sát về tình hình nuôi lươn đồng tại xã Tân Long, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã Tân Long, thành phố Cần Thơ) và phường Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường Ngã Năm, thành phố Cần Thơ).

22-9-26-NT luon dong ST-BCN(1)
PGS. TS. Dương Nhựt Long, chủ nhiệm dự án báo cáo kết quả tại Hội đồng nghiệm thu. (Ảnh: XM)

Theo Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp thành phố, dự án: “Ứng dụng công nghệ IoT kết hợp kỹ thuật plasma lạnh trong sản xuất giống và xây dựng chuỗi giá trị lươn đồng thương phẩm tại tỉnh Sóc Trăng”, kết quả khảo sát thực trạng tại địa phương cho thấy, người dân còn thiếu kiến thức chuyên môn trong quản lý mô hình nuôi.

Điều kiện môi trường trong các bể nuôi chưa thực sự phù hợp với yêu cầu kỹ thuật. Những hạn chế về môi trường kéo theo nhiều vấn đề đối với quá trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm.

Ở giai đoạn ương từ lươn bột đến 30 ngày tuổi, tỷ lệ sống tại các mô hình khảo sát chỉ đạt khoảng 28 - 46%. Đối với lươn nuôi thương phẩm, tỷ lệ sống cũng biến động khá lớn, khoảng 40 - 88%, trong khi năng suất thực tế được ghi nhận ở mức 48,7 kg/m²…

Từ thực tế đó, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để nâng cao tỷ lệ sống, cải thiện chất lượng giống, tăng năng suất và hiệu quả của mô hình nuôi lươn đồng thương phẩm. Để khắc phục tình trạng trên, PGS. TS. Dương Nhựt Long và các cộng sự đã đề xuất và được phê duyệt thực hiện dự án “Ứng dụng công nghệ IoT kết hợp kỹ thuật plasma lạnh trong sản xuất giống và xây dựng chuỗi giá trị lươn đồng thương phẩm tại tỉnh Sóc Trăng”.

Hướng tiếp cận của dự án là kết hợp công nghệ IoT với mạng cảm biến thông minh, kỹ thuật plasma lạnh và quy trình vận hành, quản lý sản xuất được chuẩn hóa. Trong đó, IoT và mạng cảm biến hỗ trợ theo dõi, điều tiết các điều kiện môi trường; plasma lạnh được ứng dụng trong xử lý nước, diệt khuẩn và hạn chế nấm ký sinh trong quá trình ấp trứng.

Nâng cao nhận thức và giá trị gia tăng cho sản phẩm

Kết quả thực nghiệm khi kết hợp công nghệ IoT với kỹ thuật plasma lạnh trong sản xuất lươn giống cho thấy hiệu quả khá rõ: Ở giai đoạn từ lươn bột đến 30 ngày tuổi, với mật độ 5.000 con/m², tỷ lệ sống của lươn giống đạt từ 87,9 - 96,0%, trung bình 90,7%. Kết quả này cao hơn đáng kể so với tỷ lệ sống 28 - 46% được ghi nhận trong khảo sát thực trạng.

ld.png
Lắp đặt thiết bị cảm biến thông minh cho bể nuôi lươn. (Ảnh: DA)

Ở giai đoạn tiếp theo, việc áp dụng công nghệ và quy trình quản lý phù hợp tiếp tục góp phần nâng tỷ lệ sống của lươn. Dự án ghi nhận tỷ lệ sống giai đoạn từ 30 - 90 ngày tuổi đạt 81,2 - 92,6%. Kết quả kiểm soát chất lượng nước trong mô hình nuôi lươn cho thấy, việc sử dụng plasma lạnh xử lý nước đã góp phần giảm hàm lượng Coliforms, qua đó hạn chế nguy cơ xuất hiện mầm bệnh trong hệ thống ương giống.

PGS. TS. Dương Nhựt Long cho biết thêm, sau khi giải quyết bài toán con giống, dự án tiếp tục ứng dụng công nghệ để xây dựng mô hình nuôi lươn thương phẩm. Hai mật độ nuôi được thực nghiệm là 600 và 800 con/m². Kết quả cho thấy ở mật độ 600 con/m², khối lượng lươn đạt 236,23±4,30 g/con, tỷ lệ sống 80,2±1,2%, năng suất 113,6±2,7 kg/m². Ở mật độ 800 con/m², khối lượng đạt 226,53±7,20 g/con, tỷ lệ sống 75,9±4,2%, năng suất đạt 137,5±6,5 kg/m².

Một điểm đáng chú ý của dự án là không dừng lại ở việc nâng năng suất nuôi mà tiếp tục đưa lươn đồng vào khâu chế biến. Đây là bước chuyển quan trọng từ sản xuất nguyên liệu sang gia tăng giá trị sản phẩm.

Nhóm nghiên cứu đã xây dựng thành công 2 quy trình gồm quy trình chế biến lươn đồng xông khói và quy trình chế biến lươn sốt tiêu xanh đóng hộp. Thay vì sản phẩm chỉ được đưa ra thị trường dưới dạng lươn nguyên liệu, các công đoạn chế biến, đóng gói và bảo quản tạo điều kiện để sản phẩm tiếp cận những phương thức tiêu dùng đa dạng hơn.

hottyhap.png
Hội thảo và tập huấn cho người dân về kỹ thuật nuôi lươn. (Ảnh: DA)

Bên cạnh đó, dự án đã tổ chức hội thảo và các lớp tập huấn kỹ thuật cho gần 300 lượt nông dân tập trung vào kỹ thuật sản xuất giống, nuôi lươn thương phẩm, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm...

Đáng chú ý, một tổ hợp tác sản xuất, phát triển chuỗi giá trị lươn đồng tại địa phương đã được thành lập và đang hoàn thiện hồ sơ để cấp giấy chứng nhận. Đây là bước đi nhằm tạo sự liên kết giữa các hộ sản xuất, thay vì phát triển nghề nuôi theo từng mô hình riêng lẻ.

Những kết quả đạt được từ dự án cho thấy việc đưa khoa học và công nghệ vào sản xuất không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả của từng công đoạn nuôi lươn mà còn mở ra hướng tiếp cận mới trong tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị. Sự kết hợp giữa công nghệ IoT trong theo dõi, quản lý các điều kiện nuôi và kỹ thuật plasma lạnh trong sản xuất giống, xử lý môi trường góp phần tạo cơ sở để kiểm soát tốt hơn chất lượng con giống, điều kiện sản xuất và chất lượng lươn thương phẩm.

Quan trọng hơn, kết quả của dự án tạo tiền đề để hoàn thiện quy trình sản xuất phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương, giúp nâng cao giá trị sản phẩm và thu nhập cho người nuôi. Đây cũng là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện, chuyển giao và nhân rộng các giải pháp công nghệ, từng bước hình thành ngành hàng lươn đồng theo hướng an toàn, ổn định và bền vững, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ và xây dựng thương hiệu sản phẩm lươn đồng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long./.

Nổi bật
    Mới nhất
    Cần Thơ: Ứng dụng công nghệ nâng cao chuỗi giá trị lươn đồng thương phẩm