KH&CN địa phương

Cà Mau: Tiếp sức cho thủy sản bản địa bằng khoa học và công nghệ

NMK • 14/10/2026 08:57

Từ nguồn nguyên liệu thủy sản sẵn có, các hộ kinh doanh trên địa bàn xã Thanh Tùng, tỉnh Cà Mau đã từng bước nâng cao giá trị sản phẩm thông qua cải tiến kỹ thuật chế biến, kiểm nghiệm chất lượng, xây dựng thương hiệu và ứng dụng công cụ số. Khi khoa học - công nghệ được gắn với nhu cầu thực tế của người dân, những sản phẩm quy mô hộ gia đình sẽ có thêm điều kiện hợp lý để tiếp cận với đại chúng.

Từ kinh nghiệm chế biến đến quy trình sản xuất được chuẩn hóa

6bc8fea358abd8f581ba(1).jpg
Hệ sinh thái rừng ngập mặn cung cấp nguồn thủy sản phong phú cho người dân Cà Mau.

Tại xã Thanh Tùng, tỉnh Cà Mau, các sản phẩm chế biến từ thủy sản như mắm tôm chua, khô cá rô phi, bánh phồng tôm và chả cá rô phi gắn với hoạt động sản xuất của các hộ kinh doanh địa phương. Đây là những sản phẩm có khả năng tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có, tạo thêm giá trị cho thủy sản và góp phần đa dạng hóa sinh kế của người dân.

Tuy nhiên, để sản phẩm truyền thống phát triển ổn định, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường, kinh nghiệm sản xuất của người dân cần được kết hợp với quy trình kỹ thuật, yêu cầu về an toàn thực phẩm và phương thức tổ chức kinh doanh phù hợp. Đây cũng là hướng tiếp cận trong các hoạt động hỗ trợ ứng dụng khoa học và công nghệ tại địa phương.

Một trong những nội dung quan trọng là hỗ trợ người dân từng bước hoàn thiện quy trình chế biến. Thông qua tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và tư vấn trực tiếp, các hộ kinh doanh được tiếp cận phương pháp sản xuất phù hợp với từng nhóm sản phẩm, đồng thời chú trọng hơn đến điều kiện vệ sinh, chất lượng và tính ổn định giữa các mẻ sản xuất.

Đối với những sản phẩm chế biến từ thủy sản, việc chuẩn hóa quy trình có ý nghĩa thiết thực. Chất lượng nguyên liệu, các công đoạn sơ chế, chế biến, bảo quản và đóng gói đều có thể ảnh hưởng đến đặc tính sản phẩm cũng như khả năng tiêu thụ. Việc ứng dụng kiến thức khoa học vào từng khâu giúp người sản xuất có cơ sở kiểm soát chất lượng tốt hơn, hạn chế sự phụ thuộc hoàn toàn vào kinh nghiệm cá nhân.

Bên cạnh chuyển giao kỹ thuật, việc lấy mẫu kiểm tra chất lượng, hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ tự công bố sản phẩm và chuẩn bị các điều kiện về an toàn thực phẩm góp phần giúp hộ kinh doanh nâng cao ý thức tuân thủ quy định. Đây là bước quan trọng để sản phẩm địa phương từng bước tiếp cận các kênh phân phối có yêu cầu rõ ràng về nguồn gốc, chất lượng và điều kiện sản xuất.

Cùng với kiến thức và quy trình kỹ thuật, điều kiện sản xuất cũng được quan tâm. Các hộ được hỗ trợ bổ sung một số thiết bị, dụng cụ phục vụ chế biến và vệ sinh; đồng thời được hướng dẫn sử dụng bao bì, nhãn sản phẩm phù hợp hơn. Những hỗ trợ này góp phần cải thiện điều kiện sản xuất, giúp người dân từng bước chuyển từ phương thức làm hàng quy mô nhỏ, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sang cách tổ chức sản xuất chú trọng hơn đến chất lượng và yêu cầu thị trường.

Hoàn thiện thương hiệu, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường

Nếu quy trình sản xuất quyết định chất lượng sản phẩm thì bao bì, nhãn hiệu và thông tin nhận diện có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng. Vì vậy, hỗ trợ người dân phát triển sản phẩm không chỉ dừng ở khâu chế biến mà còn cần gắn với xây dựng thương hiệu và quảng bá.

Tại xã Thanh Tùng, các hộ kinh doanh được hỗ trợ thiết kế nhãn sản phẩm, xây dựng hồ sơ đăng ký nhãn hiệu và tiếp cận mã số doanh nghiệp theo hệ thống GS1. Đây là những công cụ giúp hoàn thiện thông tin nhận diện, tạo nền tảng cho việc quản lý sản phẩm và từng bước nâng cao tính chuyên nghiệp trong kinh doanh.

Việc đăng ký nhãn hiệu có ý nghĩa trong bảo vệ dấu hiệu nhận diện của cơ sở sản xuất, hạn chế nguy cơ bị sử dụng hoặc làm giả thương hiệu. Trong khi đó, mã số GS1 hỗ trợ nhận diện sản phẩm, doanh nghiệp trong hoạt động lưu thông hàng hóa và có thể tạo thuận lợi khi kết nối với các hệ thống quản lý, phân phối phù hợp. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, các công cụ này cần được sử dụng đồng bộ với việc duy trì chất lượng, bảo đảm nguồn cung và thực hiện đúng các quy định liên quan.

Hoạt động quảng bá cũng được chú trọng thông qua thiết kế nhãn và xây dựng video giới thiệu sản phẩm. So với cách tiếp thị chủ yếu dựa vào khách hàng quen hoặc kênh bán hàng trực tiếp, việc có hình ảnh và nội dung giới thiệu được chuẩn bị bài bản giúp cơ sở sản xuất có thêm tư liệu để truyền thông, giới thiệu đặc điểm sản phẩm và tiếp cận khách hàng trên các nền tảng trực tuyến.

Đây là bước tiếp cận chuyển đổi số ở quy mô phù hợp với hộ kinh doanh. Chuyển đổi số không nhất thiết bắt đầu từ những hệ thống công nghệ phức tạp mà có thể được triển khai từ việc số hóa thông tin sản phẩm, sử dụng công cụ truyền thông trực tuyến và từng bước hình thành phương thức quản lý, quảng bá chuyên nghiệp hơn. Khi được kết hợp với chất lượng sản phẩm và năng lực cung ứng ổn định, các công cụ này có thể hỗ trợ người dân mở rộng phạm vi tiếp cận thị trường.

Dù vậy, xây dựng thương hiệu và quảng bá chỉ là điều kiện ban đầu. Để sản phẩm có chỗ đứng lâu dài, các hộ kinh doanh vẫn cần duy trì chất lượng đồng đều, tính toán chi phí hợp lý, tìm kiếm đầu ra ổn định và chủ động đáp ứng yêu cầu của từng nhóm khách hàng.

Đưa khoa học, công nghệ vào phát triển sinh kế

Từ thực tiễn tại Cà Mau cho thấy, hỗ trợ người dân phát triển sản phẩm địa phương cần được triển khai theo hướng kết hợp nhiều khâu: từ chuyển giao kỹ thuật, cải thiện điều kiện sản xuất, kiểm soát chất lượng đến hoàn thiện bao bì, xây dựng thương hiệu và quảng bá. Cách tiếp cận này giúp khoa học, công nghệ gắn trực tiếp hơn với nhu cầu sản xuất, kinh doanh, thay vì chỉ dừng ở việc phổ biến kiến thức [1-4].

Đối với các hộ kinh doanh quy mô nhỏ, những rào cản thường không chỉ nằm ở kỹ thuật chế biến mà còn ở nguồn lực đầu tư, khả năng hoàn thiện thủ tục, thiết kế bao bì, tiếp cận công cụ quản lý và tìm kiếm thị trường. Vì vậy, sự hỗ trợ của cơ quan chuyên môn có vai trò kết nối kiến thức khoa học với nhu cầu thực tế, giúp người dân từng bước tháo gỡ những khó khăn vượt quá khả năng tự giải quyết.

Hướng đi này cũng phù hợp với yêu cầu thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển. Ở cấp cơ sở, hiệu quả của các chủ trương không chỉ thể hiện qua những công nghệ hiện đại được đưa vào sản xuất, mà còn ở khả năng giúp người dân cải tiến phương thức làm việc, nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo thêm cơ hội phát triển kinh tế.

Để các mô hình hỗ trợ phát huy hiệu quả lâu dài, cần tiếp tục quan tâm đến khâu sau chuyển giao. Người dân cần được hướng dẫn duy trì quy trình kỹ thuật, cập nhật quy định về chất lượng và an toàn thực phẩm, sử dụng hiệu quả nhãn hiệu và mã số sản phẩm, đồng thời kết nối với các kênh phân phối phù hợp. Việc theo dõi khả năng tiêu thụ, phản hồi của khách hàng và nhu cầu thị trường cũng là cơ sở để điều chỉnh hoạt động sản xuất, tránh tình trạng đầu tư ban đầu nhưng thiếu điều kiện duy trì.

Về lâu dài, việc nhân rộng các mô hình cần dựa trên đặc điểm nguyên liệu, sản phẩm và năng lực của từng địa bàn, tránh áp dụng một cách máy móc. Khi người dân được hỗ trợ đúng nhu cầu và có khả năng tiếp tục vận hành sau hỗ trợ, khoa học, công nghệ mới thực sự trở thành công cụ cải thiện sinh kế.

Từ những sản phẩm chế biến thủy sản tại xã Thanh Tùng, có thể thấy việc nâng cao giá trị sản phẩm địa phương không chỉ là câu chuyện cải tiến một công đoạn sản xuất. Đó là quá trình kết hợp tri thức khoa học, điều kiện sản xuất, chất lượng, thương hiệu và phương thức tiếp cận thị trường. Khi các yếu tố này được triển khai đồng bộ, sản phẩm truyền thống có thêm cơ hội phát triển theo hướng chuyên nghiệp, góp phần khai thác tốt hơn nguồn lực tại chỗ và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế nông thôn ở Cà Mau.

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

[2] UBND tỉnh Cà Mau (2026), Kế hoạch số 270/KH-UBND ngày 19/5/2026 về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2026-2030.

[3] UBND tỉnh Cà Mau (2026), Quyết định số 2505/QĐ-UBND ngày 3/7/2026 ban hành Đề án phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2026-2030.

[4] Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.

Nổi bật
    Mới nhất
    Cà Mau: Tiếp sức cho thủy sản bản địa bằng khoa học và công nghệ