Chính sách và quản lý

Bốn chuyển đổi để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh

L.H 22/08/2026 19:23

Theo GS. TS. Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Việt Nam (VAST), để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, khoa học biển cần chuyển sang một phương thức tiếp cận mới: nghiên cứu liên ngành, giải quyết các bài toán lớn của quốc gia, xây dựng hạ tầng dữ liệu dùng chung và từng bước làm chủ công nghệ biển chiến lược.

Không chỉ khai thác biển, phải làm chủ tri thức về biển

Việt Nam có lợi thế lớn về không gian biển, với hệ thống vùng biển, đảo, bờ biển và các nguồn tài nguyên đa dạng. Tuy nhiên, lợi thế tự nhiên chỉ có thể trở thành sức mạnh phát triển khi được chuyển hóa thành tri thức, công nghệ và năng lực quản trị. Đây là yêu cầu đặt ra trong triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Tại hội thảo “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh”, tổ chức ngày 21/8 tại Khánh Hòa, các nhà quản lý, nhà khoa học và địa phương đã tập trung bàn về một vấn đề có tính nền tảng: làm thế nào để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN và ĐMST) trở thành năng lực cốt lõi trong phát triển và quản trị biển.

Theo GS.TS. Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, một quốc gia biển mạnh không thể chỉ được nhìn qua số lượng cảng biển, tàu thuyền hay quy mô kinh tế biển. Quan trọng hơn là khả năng hiểu biển, dự báo được những biến động của biển, quản trị không gian biển, khai thác bền vững tài nguyên và làm chủ các công nghệ hiện đại.

437-202608211740213.png
GS.TS. Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam phát biểu tại Hội thảo.

Từ góc nhìn đó, khoa học biển cần một cuộc chuyển đổi cả về cách đặt vấn đề, tổ chức nghiên cứu lẫn đưa kết quả vào thực tiễn.

Từ nghiên cứu đơn ngành sang khoa học liên ngành

Biển là một hệ thống có tính liên kết rất cao. Một thay đổi về nhiệt độ, dòng chảy, độ mặn hay chất lượng nước có thể kéo theo những biến động trong hệ sinh thái, nguồn lợi thủy sản và hoạt động kinh tế. Những tác động đó lại chịu ảnh hưởng của khí hậu, địa chất, hoạt động con người và nhiều yếu tố khác. Chính đặc điểm này khiến khoa học biển không thể tiếp tục được tiếp cận chủ yếu theo những “ngăn” chuyên ngành.

Một bài toán về nuôi biển công nghệ cao chẳng hạn không chỉ là câu chuyện của thủy sản. Nó liên quan đến sinh học, môi trường, vật liệu, tự động hóa, cảm biến, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI). Tương tự, dự báo thiên tai biển cần sự kết hợp giữa hải dương học, khí tượng, khoa học Trái đất, viễn thám, công nghệ tính toán và AI.

Vì vậy, chuyển từ nghiên cứu đơn ngành sang liên ngành không đơn thuần là đưa nhiều chuyên gia vào cùng một dự án. Quan trọng hơn là hình thành một phương thức nghiên cứu trong đó dữ liệu, phương pháp và năng lực của nhiều lĩnh vực được tích hợp ngay từ khi xác định bài toán. Đây là một trong những lợi thế nổi bật của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam.

437-202608211740212.png
Các đại biểu tham dự Hội thảo.

Với hệ thống các đơn vị nghiên cứu trải rộng từ khoa học Trái đất, hải dương học, sinh học, môi trường, vật liệu đến công nghệ thông tin, AI, điện tử - tự động hóa, công nghệ vũ trụ và viễn thám, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam có điều kiện tập hợp các nhóm nghiên cứu khác nhau để tiếp cận biển như một hệ thống thống nhất.

Sự tham gia của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực vì thế có thể tạo ra những nhóm nghiên cứu liên ngành đủ khả năng giải quyết các bài toán phức tạp mà một chuyên ngành riêng lẻ khó có thể xử lý. Điều cần hướng tới là một hệ sinh thái mà ở đó nhà hải dương học có thể làm việc cùng chuyên gia AI; nhà sinh học phối hợp với chuyên gia vật liệu; nhà khoa học trái đất kết nối với nhóm viễn thám, GIS và tự động hóa.

Khi các ngành khoa học không còn hoạt động tách rời, tri thức về biển mới có thể được chuyển hóa thành năng lực quan sát, dự báo và quản trị biển.

Từ “đề tài nghiên cứu” sang những bài toán lớn của quốc gia

Một chuyển đổi khác được đặt ra là cách xác định nhiệm vụ KH&CN. Trong một thời gian dài, hoạt động nghiên cứu thường được triển khai thông qua những đề tài có phạm vi và mục tiêu tương đối cụ thể. Cách làm này cần thiết để tích lũy tri thức, nhưng trước những bài toán lớn của biển, cần một cách tiếp cận ở quy mô khác.

Theo định hướng được GS. TS. Trần Tuấn Anh nêu tại hội thảo, cần chuyển từ những đề tài riêng lẻ sang các chương trình giải quyết các vấn đề lớn của quốc gia. Chẳng hạn, thay vì nghiên cứu từng thành phần riêng biệt, có thể đặt ra bài toán tổng thể về xây dựng hệ thống quan trắc và dự báo biển quốc gia; phát triển công nghệ nuôi biển bền vững; giám sát và bảo vệ hệ sinh thái biển; xây dựng mô hình số đại dương; hay phát triển các công nghệ phục vụ đồng thời mục tiêu kinh tế và quốc phòng, an ninh. Cách tiếp cận này sẽ thay đổi cả cách đặt mục tiêu nghiên cứu.

nhatrang_canhdep_dao_binh_hung_1920x1080.jpg
Vẻ đẹp đảo Bình Hưng, tỉnh Khánh Hòa. (Ảnh: Internet)

Kết quả cuối cùng không chỉ là một báo cáo khoa học hay một công bố, mà phải có thể trả lời được những câu hỏi cụ thể: Việt Nam làm chủ được công nghệ nào? Có sản phẩm gì? Dữ liệu được sử dụng ra sao? Công nghệ có được chuyển giao hay thương mại hóa không? Năng lực quốc gia nào được hình thành sau chương trình?

Đây cũng là tinh thần được Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân nhấn mạnh tại hội thảo: thước đo quan trọng không nằm ở số lượng đề tài mà ở những công nghệ được làm chủ, những sản phẩm được tạo ra và năng lực quốc gia được hình thành.

Với cách tiếp cận bài toán lớn, các nhà khoa học Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam có thể phát huy mạnh hơn năng lực nghiên cứu đa ngành, đồng thời kết nối với trường đại học, doanh nghiệp và các địa phương ven biển. Đây là bước chuyển từ “nghiên cứu về biển” sang nghiên cứu để giải quyết các vấn đề của biển.

Từ dữ liệu phân tán đến hạ tầng dữ liệu biển dùng chung

Nếu tri thức là nền tảng để hiểu biển thì dữ liệu chính là nguyên liệu cho thế hệ nghiên cứu và quản trị biển mới. Hiện dữ liệu về biển được hình thành từ rất nhiều nguồn. Đó có thể là số liệu từ các chuyến khảo sát của tàu nghiên cứu, hệ thống phao quan trắc, radar, vệ tinh, robot dưới nước, trạm quan sát hoặc các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Vấn đề không chỉ là có dữ liệu, mà là dữ liệu có được chuẩn hóa, kết nối và khai thác như một nguồn lực thống nhất hay không. Theo GS.TS Trần Tuấn Anh, cần chuyển từ tình trạng dữ liệu phân tán sang xây dựng hạ tầng dữ liệu biển dùng chung.

Đây là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Khi các nguồn dữ liệu được chuẩn hóa và liên thông, Việt Nam có thể hình thành một bức tranh toàn diện hơn về trạng thái của biển, từ đó phục vụ nghiên cứu, quy hoạch, dự báo, cảnh báo và quản lý.

Các nhà khoa học Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam có thể đóng vai trò quan trọng trong quá trình này, đặc biệt ở khâu kết nối dữ liệu quan trắc, dữ liệu vệ tinh, viễn thám, dữ liệu môi trường, sinh học và các dữ liệu khoa học Trái đất.

Trên nền tảng dữ liệu tích hợp, những công nghệ như AI, học máy, mô hình hóa và tính toán hiệu năng cao có thể được sử dụng để nhận diện quy luật, dự báo diễn biến và xây dựng các kịch bản phục vụ ra quyết định.

Từ đó có thể hình thành những nền tảng như Digital Ocean - Đại dương số, tiến tới Digital Twin Ocean - Bản sao số của đại dương. Đây không chỉ là một bước tiến về công nghệ. Về bản chất, đó là sự thay đổi phương thức quản trị: từ phản ứng sau khi sự việc xảy ra sang chủ động dự báo, mô phỏng và lựa chọn phương án trước khi quyết định.

Từ ứng dụng công nghệ đến từng bước làm chủ công nghệ biển chiến lược

Một quốc gia biển mạnh không thể phụ thuộc lâu dài vào việc nhập khẩu toàn bộ những công nghệ cốt lõi phục vụ nghiên cứu, khai thác và quản trị biển. Vì vậy, chuyển từ “ứng dụng công nghệ” sang “làm chủ công nghệ” là bước chuyển có ý nghĩa lâu dài.

Làm chủ ở đây không nhất thiết đồng nghĩa với việc phải tự phát triển toàn bộ mọi công nghệ. Quan trọng là Việt Nam xác định được những công nghệ có tính chiến lược, có ý nghĩa đối với lợi thế quốc gia và từng bước xây dựng năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, vận hành và cải tiến.

Đó có thể là công nghệ quan trắc biển sâu, cảm biến và thiết bị đo, robot dưới nước, công nghệ viễn thám, hệ thống định vị, AI cho đại dương, vật liệu mới, công nghệ nuôi biển, công nghệ xử lý môi trường hay các nền tảng mô phỏng và dự báo. Đây là lĩnh vực đòi hỏi sự phối hợp rất chặt chẽ giữa các nhà khoa học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

Các viện nghiên cứu có thể đảm nhận vai trò tạo ra tri thức và công nghệ lõi; doanh nghiệp tham gia hoàn thiện sản phẩm, sản xuất và thương mại hóa; địa phương cung cấp không gian thử nghiệm và xác định nhu cầu thực tế; Nhà nước tạo cơ chế, nguồn lực và môi trường chính sách.

Theo hướng đó, KH&CN không dừng lại ở việc “giải một đề tài”, mà phải tạo ra chuỗi giá trị từ nghiên cứu cơ bản đến công nghệ, sản phẩm và thị trường.

Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam: Kết nối các năng lực khoa học để giải bài toán biển

Bốn chuyển đổi trên đặt ra yêu cầu về một hệ sinh thái nghiên cứu đủ mạnh và có khả năng kết nối. Đây là nơi vai trò của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam trở nên đặc biệt quan trọng.

Không chỉ có các đơn vị nghiên cứu chuyên sâu về biển, Viện còn sở hữu năng lực ở nhiều lĩnh vực KH&CN có thể bổ trợ trực tiếp cho nghiên cứu đại dương. Sự kết nối giữa khoa học biển với khoa học Trái đất, sinh học, môi trường, vật liệu, AI, công nghệ vũ trụ, viễn thám, điện tử và tự động hóa có thể tạo ra những hướng nghiên cứu mới mà cách tiếp cận đơn ngành khó hình thành.

Từ đó, các nhà khoa học của Viện có thể tham gia sâu hơn vào việc xây dựng các chương trình nghiên cứu quy mô quốc gia, hình thành các nhóm nghiên cứu liên ngành và phát triển những nền tảng khoa học - công nghệ phục vụ quản trị biển.

Quan trọng hơn, hệ sinh thái này cần mở rộng ra ngoài phạm vi một tổ chức. Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, các trường đại học, doanh nghiệp, địa phương và các cơ quan quản lý cần cùng tham gia một mạng lưới nghiên cứu và đổi mới sáng tạo biển.

Khi đó, kết quả nghiên cứu không bị giới hạn trong các phòng thí nghiệm mà có cơ hội được đưa vào thực tiễn sản xuất, quản lý và hoạch định chính sách.

Từ “hiểu biển” đến “làm chủ biển”

Hội thảo tại Khánh Hòa cho thấy một yêu cầu đang ngày càng rõ: muốn xây dựng quốc gia biển mạnh, Việt Nam cần đầu tư cho năng lực khoa học và công nghệ ở cấp độ quốc gia.

Đó không chỉ là đầu tư thêm tàu nghiên cứu, phòng thí nghiệm hay thiết bị quan trắc. Quan trọng hơn là hình thành phương thức tổ chức nghiên cứu mới, trong đó các ngành khoa học được kết nối, dữ liệu được chia sẻ, các bài toán lớn được ưu tiên và công nghệ chiến lược từng bước được làm chủ.

Bốn chuyển đổi được GS. TS. Trần Tuấn Anh đề xuất vì vậy có thể được nhìn nhận như bốn mắt xích của cùng một quá trình: khoa học liên ngành tạo ra tri thức; các chương trình lớn tập hợp nguồn lực; hạ tầng dữ liệu biến tri thức thành năng lực dự báo; còn công nghệ làm chủ tạo ra sức mạnh cạnh tranh và tự chủ quốc gia.

Trong quá trình ấy, đội ngũ các nhà khoa học của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam có thể đóng vai trò một trong những lực lượng nòng cốt, kết nối nhiều lĩnh vực KH&CN để cùng giải quyết những bài toán lớn của biển./.

Nổi bật
    Mới nhất
    Bốn chuyển đổi để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh