Ba yêu cầu cốt lõi để triển khai hiệu quả các nhiệm vụ công nghệ chiến lược
Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định nhấn mạnh: Để triển khai hiệu quả các nhiệm vụ công nghệ chiến lược, cần thống nhất cách hiểu, cách làm và trách nhiệm tổ chức thực hiện. Trong đó, ba yêu cầu cốt lõi cần được quán triệt từ quá trình xác định, triển khai đến đánh giá nhiệm vụ.
Quản lý theo kết quả đầu ra thay vì nặng về thủ tục
Ngày 6/8/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1493/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN và ĐMST) quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.
Chương trình hướng tới mục tiêu làm chủ, phát triển, hoàn thiện và thương mại hóa các sản phẩm công nghệ chiến lược có năng lực cạnh tranh cao; phát triển công nghệ lõi, từng bước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược gắn kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức KHCN.
Theo mục tiêu giai đoạn 2026-2030, Việt Nam phấn đấu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược thuộc danh mục do Thủ tướng Chính phủ ban hành; phát triển và thương mại hóa ít nhất 15 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có tối thiểu 5 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế. Các sản phẩm công nghệ chiến lược được thương mại hóa phấn đấu đạt tỷ lệ nội địa hóa khoảng 40%.
Đồng thời, Chương trình đặt mục tiêu phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp (DN) làm chủ công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược thông qua việc chủ trì hoặc tham gia các nhiệm vụ nghiên cứu, trong đó có ít nhất 5 DN có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Đến giai đoạn 2031-2035, mục tiêu được nâng lên làm chủ 6 công nghệ chiến lược, phát triển và thương mại hóa tối thiểu 25 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có ít nhất 15 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường quốc tế hoặc khu vực. Cùng với đó, sẽ phát triển tối thiểu 30 DN làm chủ công nghệ chiến lược, trong đó có ít nhất 10 DN tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã ban hành Thông tư số 48/2026/TT-BKHCN ngày 01/8/2026 quy định trình tự, thủ tục xét tài trợ, đặt hàng, thẩm định, phê duyệt tổ chức chủ trì, kinh phí và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình KHCN và ĐMST quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.
Nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược hướng tới nghiên cứu, phát triển, làm chủ, hoàn thiện hoặc tạo ra công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược theo danh mục do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Nhiệm vụ có thể được tổ chức dưới hình thức nhiệm vụ đơn lẻ, cụm nhiệm vụ hoặc chuỗi nhiệm vụ có sự liên kết chặt chẽ về mục tiêu, nội dung và kết quả.
Thông tư quy định mỗi nhiệm vụ phải được cấp mã số duy nhất để quản lý, theo dõi và lưu trữ. Nội dung thực hiện được chia thành các gói công việc và mốc đánh giá, trong đó xác định rõ mục tiêu, sản phẩm đầu ra, chỉ tiêu kỹ thuật, kinh phí, tiến độ và trách nhiệm của tổ chức chủ trì.
Sau khi có kết quả, cơ quan quản lý phê duyệt tổ chức chủ trì, kinh phí và thời gian thực hiện, sau đó ký hợp đồng trong thời hạn 10 ngày làm việc. Tổ chức chủ trì phải bảo đảm sản phẩm, tiến độ, quản lý kinh phí đúng quy định và báo cáo tại các mốc đánh giá.
Nhằm phổ biến các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình KHCN và ĐMST quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược Bộ KH&CN tổ chức Hội thảo ngày 10/8/2026, tại Hà Nội.
Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định cho biết, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.
Để triển khai hiệu quả các nhiệm vụ công nghệ chiến lược, cần thống nhất cách hiểu, cách làm và trách nhiệm tổ chức thực hiện. Trong đó, ba yêu cầu cốt lõi cần được quán triệt từ quá trình xác định, triển khai đến đánh giá nhiệm vụ.

Thứ nhất, quản lý theo kết quả đầu ra thay vì nặng về thủ tục, công nghệ chiến lược không thể được quản lý bằng tư duy hành chính thông thường. Các văn bản hướng dẫn mới được thiết kế theo hướng chuyển mạnh từ quản lý đầu vào sang quản lý đầu ra, thông qua khoán chi, sản phẩm và các mốc tiến độ.
Khi mục tiêu và năng lực thực hiện đã rõ, đơn vị chủ trì sẽ được trao quyền chủ động cao hơn, đi kèm cơ chế giải trình minh bạch. Cách tiếp cận này nhằm giảm sự can thiệp hành chính vào quá trình nghiên cứu, đồng thời đặt trách nhiệm của tổ chức, nhà khoa học vào kết quả cuối cùng
Thứ hai, bắt đầu từ bài toán thực tế thay vì đề xuất nhiệm vụ.
Theo Thứ trưởng Lê Xuân Định, mỗi nhiệm vụ phải trả lời được ba câu hỏi: Việt Nam cần làm chủ công nghệ chiến lược nào, sản phẩm chiến lược cuối cùng là gì và DN nào sẽ giữ vai trò chủ đạo. Bởi vì nguồn lực của nhà nước là có hạn, đầu tư cần tập trung vào những khâu mà thị trường chưa thể tự giải quyết.
Vì vậy, DN phải tham gia thực chất ngay từ khâu xác định nhiệm vụ. Sự tham gia này nhằm bảo đảm kết quả nghiên cứu có khả năng đi vào thị trường, phục vụ sản xuất và đời sống, thay vì dừng lại ở phòng thí nghiệm hoặc cơ sở nghiên cứu.
Thứ ba, kết quả phải được đo bằng năng lực làm chủ công nghệ và sản phẩm ứng dụng thực tế.
Thứ trưởng Lê Xuân Định cho rằng với công nghệ chiến lược, báo cáo hay bài báo khoa học chỉ là phương tiện, còn năng lực làm chủ công nghệ và sản phẩm ứng dụng mới là đích đến.
Do đó, các văn bản hướng dẫn đã đưa yêu cầu về lộ trình thương mại hóa và tiêu chí kỹ thuật vào ngay từ bước phê duyệt nhiệm vụ. Các đơn vị cũng phải chú trọng tốc độ triển khai, bởi công nghệ thay đổi từng ngày và nếu quy trình kéo dài, Việt Nam có thể bỏ lỡ cơ hội thị trường.
Từ ba yêu cầu trên, Thứ trưởng đề nghị thống nhất phương châm hành động: “Lấy bài toán của đất nước làm điểm xuất phát; lấy công nghệ chiến lược cần làm chủ làm mục tiêu; lấy sản phẩm công nghệ chiến lược làm đầu ra và lấy DN, thị trường làm nơi kiểm chứng”.

Làm chủ và thương mại hóa các sản phẩm công nghệ chiến lược có năng lực cạnh tranh cao
Cũng tại Hội thảo, ông Nguyễn Minh Quân, đại diện Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia (NAFOSTED) cho biết, Chương trình KHCN và ĐMST quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược được thiết kế theo hướng lấy sản phẩm công nghệ chiến lược làm mục tiêu, thương mại hóa làm thước đo hiệu quả, thay vì chỉ tập trung vào kết quả nghiên cứu.
"Đây là một trong những thay đổi quan trọng nhằm chuyển các kết quả KHCN thành năng lực sản xuất và sức cạnh tranh thực tế của nền kinh tế".
Chương trình được xây dựng trên cơ sở Nghị quyết 57-NQ/TW, Luật KHCN và ĐMST năm 2025, Luật Công nghệ cao năm 2025, Nghị định 260/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Công nghệ cao và Quyết định 21/2026/QĐ-TTg ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược.
Đối tượng gồm 10 công nghệ chiến lược và 30 sản phẩm công nghệ chiến lược, tập trung vào các lĩnh vực như công nghệ số, bán dẫn, robot và tự động hóa, sinh học - y sinh, năng lượng và vật liệu tiên tiến, an ninh mạng, lượng tử, hàng không - vũ trụ và đường sắt tốc độ cao.
Sản phẩm và mục tiêu thương mại hóa sẽ là thước đo hiệu quả của chương trình, trong đó DN được xác định là trung tâm, viện nghiên cứu, tổ chức khoa học và cơ sở giáo dục đại học là lực lượng nòng cốt thực hiện nghiên cứu.
Mục tiêu tổng quát của Chương trình là làm chủ và thương mại hóa các sản phẩm công nghệ chiến lược có năng lực cạnh tranh cao, qua đó giúp Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu về công nghệ chiến lược và công nghệ lõi. Chương trình đồng thời hướng tới hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược, tăng liên kết giữa doanh nghiệp với các tổ chức khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh công nghệ quốc gia.
Bộ KH&CN giữ vai trò chủ trì quản lý, điều phối và tổ chức chương trình, từ xây dựng kế hoạch, thẩm định, phê duyệt hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt nhiệm vụ đến tuyển chọn, đặt hàng, tài trợ, kiểm tra và đánh giá kết quả. Những nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh sẽ được thực hiện theo pháp luật chuyên ngành.
Bộ KH&CN có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 31/12 hằng năm; các bộ, ngành, địa phương gửi báo cáo tới Bộ Khoa học và Công nghệ trước ngày 30/11 hằng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền.
Ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 100% đối với công nghệ lõi, công nghệ nền tảng, công nghệ có ý nghĩa quan trọng với năng lực tự chủ quốc gia, quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ có rủi ro cao. Với sản phẩm công nghệ chiến lược có khả năng ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa, mức hỗ trợ tối đa 70%, phần còn lại do tổ chức chủ trì và các bên tham gia đối ứng.
Kinh phí đối ứng được mở rộng, có thể gồm tiền, nhân lực, thiết bị, hạ tầng, tài sản trí tuệ và các nguồn lực hợp pháp trực tiếp phục vụ nhiệm vụ. Dự toán được lập theo gói công việc (WP), trong đó xác định mục tiêu, sản phẩm đầu ra, kinh phí, trách nhiệm và thời gian thực hiện. Với nội dung chưa có định mức, có thể căn cứ hợp đồng tương tự, giá thị trường, báo giá, thẩm định giá và các căn cứ hợp pháp khác; tổ chức chủ trì phải chịu trách nhiệm về tính cần thiết, hợp lý, hợp pháp và khả thi.
Cơ chế thù lao chuyển sang tính theo vị trí công việc, mức độ tham gia, với mức trần riêng; đồng thời cho phép thuê chuyên gia trong và ngoài nước với mức cao hơn trong trường hợp đặc biệt. Kinh phí dự phòng tối đa 10% tổng dự toán ngân sách nhà nước.
Với định hướng đó, chương trình được kỳ vọng tạo ra một hệ sinh thái công nghệ chiến lược, trong đó Nhà nước kiến tạo chính sách và nguồn lực, viện trường cung cấp tri thức và năng lực nghiên cứu, còn DN đưa công nghệ vào sản xuất, thị trường và chuỗi giá trị. Mục tiêu cuối cùng là chuyển năng lực nghiên cứu thành năng lực làm chủ công nghệ, từ công nghệ thành sản phẩm và từ sản phẩm thành sức cạnh tranh của DN Việt Nam trên thị trường quốc tế./.
