29 địa phương đăng ký 124 sản phẩm KHCN, đổi mới sáng tạo
Qua 1 năm 6 tháng triển khai nhiệm vụ đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN, ĐMST), nhiều bộ, ngành địa phương đã có định hướng phát triển theo ngành, lĩnh vực phụ trách. Đã có 29 địa phương đăng ký 124 sản phẩm KHCN, ĐMST.
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST), chuyển đổi số và Đề án 06, Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 đã có báo cáo thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Chính phủ báo cáo về tình hình, kết quả qua 1 năm 6 tháng triển khai nhiệm vụ đột phá phát triển KHCN, ĐMST tại phiên họp chuyên đề về thúc đẩy phát triển KHCN, ĐMST chiều ngày 23/6.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Trưởng ban Chỉ đạo chủ trì phiên họp.

Các bộ, ngành định hướng phát triển KHCN, ĐMST theo ngành, lĩnh vực phụ trách
Tại phiên họp, báo cáo của Ban chỉ đạo cho biết qua theo dõi Chương trình, Nghị quyết, Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của 15 bộ, ngành và 33 địa phương, có Bộ Nông nghiệp và Môi trường và 10 địa phương (An Giang, Cao Bằng, Điện Biên, Đồng Tháp, Hải Phòng, Lâm Đồng, Ninh Bình, Tây Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Vĩnh Long) nêu cụ thể về quan điểm chỉ đạo về phát triển KHCN, ĐMST gắn với tinh thần chung của Trung ương.
Đối với các bộ, ngành, báo cáo của Ban chỉ đạo cho biết các bộ, ngành bước đầu đã có định hướng phát triển KHCN, ĐMST theo ngành, lĩnh vực phụ trách.
Cụ thể, Bộ Công Thương định hướng phát triển vào các lĩnh vực công nghệ chiến lược trong thương mại, logistic, sản phẩm, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường định hướng các nhóm sản phẩm gắn với giống, vắc xin, chế phẩm sinh học, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu phụ phẩm, giảm phát thải, quan trắc môi trường.
Bộ Ngoại giao phối hợp, hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương vào ngoại giao công nghệ, huy động nguồn lực quốc tế.
Bộ Tư pháp định hướng vào thể chế, pháp luật, AI trong quy trình pháp lý.
Bộ Xây dựng, Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước Việt Nam định hướng triển khai tập trung vào xây dựng nền tảng quản lý, kinh phí, ngân hàng chuyển đổi số (CĐS) chuyên ngành và hoàn thiện thể chế.
Đối với các địa phương, các địa phương đã cơ bản xác định nhiệm vụ, sản phẩm gắn với thế mạnh, được chia thành 2 nhóm.
Cụ thể, nhóm công nghệ mới, công nghệ cao và công nghiệp công nghệ, gồm 14 địa phương:
Thái Nguyên: cây công nghiệp kết hợp phát triển công nghiệp công nghệ và sản xuất chế tạo; Hưng Yên: công nghiệp công nghệ cao, sản phẩm công nghiệp chủ lực; Hải Phòng: AI, robot, vật liệu mới, logistics; Bắc Ninh: điện tử, linh kiện, thiết bị công nghệ cao; Ninh Bình: định hướng bán dẫn, phòng thí nghiệm công nghệ cao; Hà Nội: hạ tầng KHCN, ĐMST.
Thanh Hóa: ĐMST, công nghiệp công nghệ, vật liệu; Hà Tĩnh: trung tâm ĐMST, vật liệu, công nghiệp công nghệ; Đà Nẵng: AI, bán dẫn; Gia Lai: Trung tâm ĐMST, công nghiệp công nghệ cao, vật liệu mới, AI, bán dẫn, lượng tử, UAV, năng lượng tái tạo; Quảng Ngãi: công nghiệp công nghệ cao, vật liệu, môi trường; Huế: công nghệ sinh học, y tế chuyên sâu kết hợp định hướng bán dẫn, lượng tử, UAV.
TP. Hồ Chí Minh: sản phẩm công nghệ quy mô lớn, công nghệ chiến lược; Đồng Nai: robot, tự động hóa, logistics, công nghiệp FDI.
Trong khi đó, nhóm nông nghiệp, lâm nghiệp và kinh tế sinh học, gồm 19 địa phương:
Tuyên Quang: nông nghiệp, lâm nghiệp; Phú Thọ: nông sản, gia cầm; Sơn La: cây công nghiệp, cây ăn quả, dược liệu; Lạng Sơn: nông sản đặc sản gắn logistics cửa khẩu; Lai Châu: cây trồng, sản phẩm nông nghiệp; Điện Biên: nông nghiệp, cây trồng đặc sản; Cao Bằng: nông nghiệp, dược liệu, cây trồng đặc sản; Nghệ An: nông nghiệp hữu cơ, sản phẩm đặc trưng địa phương.
Quảng Trị: cây công nghiệp, dược liệu; Lâm Đồng: nông nghiệp công nghệ cao, sản phẩm xuất khẩu; Đắk Lắk: nông nghiệp, cây công nghiệp, sản phẩm nông nghiệp chủ lực; Khánh Hòa: kinh tế biển, thủy sản, chế biến thông minh;
Tây Ninh: nông sản đặc sản hữu cơ, dược liệu, dược phẩm; Cà Mau: tôm, cua, ba khía, kinh tế biển, năng lượng tái tạo; Đồng Tháp: dược liệu, công nghệ sinh học, chế biến nông sản; An Giang: nông nghiệp công nghệ cao; Cần Thơ: truy xuất nguồn gốc, OCOP, sản phẩm chủ lực vùng; Vĩnh Long: nông nghiệp, chế biến nông sản; Lào Cai: nông nghiệp, logistics cửa khẩu, khoáng sản chế biến.

Ban chỉ đạo cũng nêu một số thực trang và kết quả triển khai thực hiện. Theo đó, một số địa phương đã dựa trên đặc thù, thực tiễn để phát triển sản phẩm mặc dù quy mô nhỏ, sản phẩm còn hạn chế, chưa xứng tầm.
29 địa phương đăng ký 124 sản phẩm KHCN, đổi mới sáng tạo
Qua tổng hợp của các địa phương, Ban chỉ đạo cho biết có 29 địa phương đăng ký sản phẩm KHCN, ĐMST, với tổng số 124 sản phẩm; còn 5 tỉnh, thành phố chưa đăng ký sản phẩm.
Phân loại theo nhóm công nghệ chiến lược: Nhóm công nghệ chiến lược có 33 sản phẩm, chiếm 27,3% tổng số sản phẩm đăng ký. Nhóm không thuộc công nghệ chiến lược có 91 sản phẩm, chiếm 72,7% tổng số sản phẩm.

Phân loại theo lĩnh vực: Nhóm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghệ sinh học và chế biến nông - lâm - thủy sản có 54/124 sản phẩm, chiếm khoảng 43,6%.
Nhóm công nghệ mới, công nghệ số, công nghệ chiến lược và công nghiệp công nghệ cao có 70/124 sản phẩm, chiếm khoảng 56,4%.
Chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy hoàn thiện thể chế, biến thể chế thành “lợi thế cạnh tranh” kiến tạo môi trường ĐMST
Theo đánh giá của Ban chỉ đạo, các bộ, ngành đã quán triệt sâu sắc các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, các bộ, ngành đã thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ, sự chủ động và tư duy đột phá trong việc đưa KHCN, ĐMST; công tác chỉ đạo, điều hành và hoạch định chiến lược KHCN, ĐMST ở cấp vĩ mô tại các bộ, ngành đã đạt được những kết quả tích cực trên nhiều phương diện.
Cũng theo Ban chỉ đạo, đã có sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy hoàn thiện thể chế, biến thể chế thành “lợi thế cạnh tranh” để kiến tạo môi trường ĐMST.
Các bộ, ngành không chỉ dừng lại ở việc áp dụng pháp luật mà đã chủ động kiến nghị tháo gỡ các điểm nghẽn, rào cản. Điển hình như việc đề xuất các cơ chế thử nghiệm (sandbox) đối với các mô hình kinh tế mới và công nghệ chiến lược.
Bộ Công Thương đã chủ động phối hợp xây dựng cơ chế thử nghiệm chính sách nhằm thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao công nghệ lõi.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng cơ chế thử nghiệm trong hợp tác đầu tư công, hạ tầng năng lượng và thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp sáng tạo.
Bộ Y tế và Bộ Xây dựng đưa các quy định về thử nghiệm sản phẩm, kỹ thuật, phương pháp mới (như in 3D cá thể hóa, tế bào gốc, quản lý hạ tầng dựa trên công nghệ) vào các đề án pháp lý.
Ban chỉ đạo nêu rõ định hướng nghiên cứu KHCN đã từng bước chuyển dịch từ hàn lâm thuần túy sang định hướng làm chủ các công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và ứng dụng thực tiễn. Thay vì đầu tư dàn trải, các Bộ đã tái cơ cấu nguồn ngân sách để tập trung cho các lĩnh vực mũi nhọn.
Các Bộ cũng đã đổi mới trong phương thức thực hiện khi chú trọng xây dựng cơ chế hợp tác công - tư (PPP) trong nghiên cứu; cho phép các tổ chức KHCN công lập, trường đại học tham gia thành lập doanh nghiệp, góp vốn để đẩy mạnh thương mại hóa tài sản trí tuệ.
Công tác “Ngoại giao công nghệ” và thu hút nhân tài chất lượng cao được đẩy mạnh, thể hiện tầm nhìn hội nhập sâu rộng khi đưa ngoại giao công nghệ trở thành một trụ cột mới.
Cùng với đó, các Bộ chuyên ngành chú trọng hơn về tăng cường nguồn nhân lực; đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm, trung tâm ĐMST đạt chuẩn quốc tế tạo bệ phóng để Việt Nam làm chủ và nhận chuyển giao công nghệ từ nước ngoài.
Đối với địa phương, một số địa phương đã có kết quả triển khai bước đầu dựa trên đặc thù, thực tiễn của địa phương để phát triển sản phẩm, mặc dù giá trị, quy mô của sản phẩm còn hạn chế./.
