Việt Nam thúc đẩy hợp tác quốc tế nhằm thu hẹp khoảng cách năng lực AI
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, việc nâng cao năng lực và thu hẹp khoảng cách công nghệ giữa các quốc gia trở thành yêu cầu cấp thiết.
Tại Đối thoại liên khu vực về nâng cao năng lực AI diễn ra ngày 28/10/2026 trong khuôn khổ Tuần lễ Số quốc tế (VIDW) 2026 tại TP. Quảng Ninh, Việt Nam cùng các đối tác quốc tế đã trao đổi các giải pháp thúc đẩy hợp tác, hướng tới phát triển và quản trị AI an toàn, trách nhiệm và bao trùm.
Việt Nam thúc đẩy phát triển AI trên ba trụ cột
Phát biểu tại phiên đối thoại, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Trần Trung Tính nhấn mạnh, Hội nghị bàn tròn trong khuôn khổ VIDW với chủ đề “Phát triển kết nối thông minh: Quản trị AI, Kiến tạo chuyển đổi AI” đã tạo cơ hội để các quốc gia và đối tác quốc tế trao đổi cởi mở về kinh nghiệm, thách thức và lĩnh vực hợp tác xoay quanh ba vấn đề gắn kết chặt chẽ.
Cụ thể, kết nối thông minh là nền tảng để AI vận hành; quản trị AI tạo dựng niềm tin để người dân, doanh nghiệp sử dụng AI; chuyển đổi AI là cách AI tạo ra giá trị thực cho xã hội.
Theo Thứ trưởng, để hiện thực hóa những mục tiêu này, yếu tố then chốt chính là năng lực AI của mỗi quốc gia.
.jpg)
Cụ thể, tháng 7/2026, phiên đầu tiên của Đối thoại Toàn cầu về Quản trị AI tại Geneva đã diễn ra theo tinh thần Cam kết số toàn cầu. Bên cạnh việc đạt được sự đồng thuận về những nguyên tắc chung, phiên họp cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc làm thế nào để chuyển hóa những cam kết và nguyên tắc chung trở thành năng lực thực tế của từng quốc gia, khu vực.
Từ yêu cầu này, Thứ trưởng nhấn mạnh, quản trị AI không thể tách rời khỏi năng lực AI. Một khung chính sách tốt vẫn là chưa đủ nếu một quốc gia thiếu đi nhân lực, hạ tầng, nguồn lực tài chính hay cơ hội tiếp cận đào tạo để phát triển và sử dụng AI an toàn, trách nhiệm. Nếu không được giải quyết một cách kịp thời, khoảng cách về năng lực sẽ trở thành khoảng cách về phát triển.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam xác định AI là động lực quan trọng của phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS).
Định hướng dài hạn này được thể hiện rõ nét qua việc Quốc hội thông qua Luật AI vào tháng 12/2025 (có hiệu lực từ ngày 01/3/2026), cùng Chiến lược quốc gia về AI đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 vừa được Chính phủ phê duyệt vào tháng 8/2026.
Những bước đi này thể hiện quan điểm xuyên suốt của Việt Nam, như Thứ trưởng Trần Trung Tính nhấn mạnh: pháp luật không phải rào cản mà phải trở thành nền tảng để AI phát triển.
Trên tinh thần đó, Việt Nam lựa chọn cách tiếp cận phát triển AI dựa trên ba trụ cột: thể chế, chính sách; nhân lực và nhân tài - yếu tố quyết định thành công của phát triển AI và hạ tầng, dữ liệu và cộng đồng khởi nghiệp AI.
Thứ trưởng khẳng định, phát triển AI là một hành trình chung và không quốc gia nào có thể tự mình đi hết hành trình đó. Việt Nam theo đuổi cách tiếp cận hài hòa giữa thúc đẩy phát triển và bảo đảm quản trị hiệu quả, lấy con người làm trung tâm, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi từ bạn bè quốc tế.
Để những trao đổi tại phiên đối thoại tiếp tục đóng góp vào các nỗ lực hợp tác chung, Thứ trưởng Trần Trung Tính cho biết, kết quả phiên đối thoại sẽ được gửi tới Liên hợp quốc để tổng hợp, trở thành đóng góp chính thức cho Đối thoại toàn cầu về Quản trị AI lần thứ hai tại New York vào tháng 5/2027.
Nâng cao năng lực AI để các quốc gia chủ động định hình tương lai công nghệ
Phát biểu thông qua thông điệp video gửi tới phiên đối thoại, ông Amandeep Singh Gill, Phó Tổng Thư ký kiêm Đặc phái viên Liên hợp quốc về Công nghệ số và Công nghệ mới nổi, nhấn mạnh sự cần thiết phải chuyển các nguyên tắc quản trị AI toàn cầu thành năng lực thực chất của từng quốc gia.
.jpg)
Theo ông Amandeep Singh, Đối thoại toàn cầu đầu tiên về Quản trị AI, diễn ra tại Geneva vào tháng 7/2026, đã thu hút hơn 160 quốc gia và gần 3.000 bên liên quan tham gia.
Một trong những kết quả đáng chú ý của cuộc đối thoại là sự đồng thuận ngày càng rõ nét rằng không quốc gia nào có thể tự mình quản trị AI một cách hiệu quả, dù có sự khác biệt về năng lực công nghệ, cách tiếp cận quản lý và ưu tiên phát triển.
Trong đó, nâng cao năng lực AI được xác định là yêu cầu thiết yếu đối với cả phát triển và quản trị. Hiện nay, nhiều quốc gia vẫn thiếu kỹ năng, chuyên môn, năng lực tính toán, dữ liệu và hạ tầng cần thiết để tham gia đầy đủ vào quá trình chuyển đổi do AI thúc đẩy.
Không chỉ dừng ở khả năng tiếp cận và ứng dụng công nghệ, năng lực AI còn thể hiện ở khả năng hiểu, thử nghiệm, đánh giá các hệ thống phù hợp với bối cảnh địa phương, từ đó đưa ra những lựa chọn về phát triển hoặc tiếp nhận công nghệ. Nếu thiếu những năng lực này, các quốc gia khó có thể chủ động định hình tương lai AI của mình.
Từ thực tế đó, ông Amandeep Singh Gill cho rằng Đối thoại liên khu vực về nâng cao năng lực AI có ý nghĩa quan trọng trong việc kết nối các nguyên tắc toàn cầu với kinh nghiệm thực tiễn.
Thông qua đối thoại và Mạng lưới Phát triển Năng lực AI Toàn cầu của Liên hợp quốc, các quốc gia có thể chia sẻ kinh nghiệm, xác định những khoảng trống về năng lực, tìm kiếm cơ hội hợp tác và xây dựng các đề xuất cụ thể.
Những kết quả này sẽ góp phần chuẩn bị nội dung cho Đối thoại toàn cầu về Quản trị AI lần thứ hai, dự kiến diễn ra tại New York trong hai ngày 3-4/5/2027.
Nhấn mạnh định hướng hợp tác thời gian tới, ông Amandeep Singh Gill đề cập ba trụ cột của Liên hợp quốc: “Khoa học để hiểu biết, chính sách để lựa chọn, năng lực để hành động”. Theo ông, sự kết hợp của ba trụ cột sẽ giúp các quốc gia chủ động hơn trong việc định hình tương lai chung của AI.
Thu hẹp khoảng cách AI, hướng tới phát triển công bằng và bao trùm
Cùng chia sẻ quan điểm về tầm quan trọng của nâng cao năng lực AI, ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam, thay mặt Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm các quốc gia có cơ hội tham gia, tạo ra giá trị và hưởng lợi từ sự phát triển của công nghệ này.
Theo ông, AI, kết nối số, chuyển đổi xanh và sản xuất tiên tiến đang làm thay đổi cách thức tạo ra giá trị. Tuy nhiên, trong khi các động lực tăng trưởng mới ngày càng phụ thuộc vào kết nối xuyên biên giới, thế giới lại có xu hướng phân mảnh.
Đáng chú ý, các nguồn lực phát triển AI như năng lực tính toán, dữ liệu và nhân tài vẫn tập trung tại một số ít địa điểm, làm gia tăng nguy cơ nới rộng khoảng cách phát triển giữa các quốc gia cũng như bất bình đẳng trong mỗi quốc gia.

Trước thực tế này, ông Jonathan Wallace Baker cho rằng tiếp cận AI là cần thiết nhưng chưa đủ. Các quốc gia phải có năng lực ứng dụng, thích ứng, phát triển và đánh giá hệ thống AI, đồng thời quản trị công nghệ phù hợp với ưu tiên phát triển và điều kiện thực tế của mình.
Dẫn kết quả Đối thoại toàn cầu đầu tiên về Quản trị AI, quy tụ 3.602 người tham gia từ 163 quốc gia, ông cho biết việc thu hẹp khoảng cách AI đòi hỏi giải quyết đồng thời nhiều nhu cầu, từ kết nối, năng lượng, hạ tầng tính toán, điện toán đám mây, dữ liệu chất lượng cao đến kỹ năng, năng lực thể chế, khuôn khổ pháp lý, tài chính bền vững và các hệ thống, nguồn lực mở.
Theo đó, trọng tâm cần chuyển từ khả năng tiếp cận sang năng lực thực chất, giúp các quốc gia không chỉ là bên sử dụng công nghệ mà còn trở thành chủ thể cùng sáng tạo và tham gia quản trị quá trình chuyển đổi AI.
Bên cạnh nâng cao năng lực, đại diện UNESCO đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu xây dựng niềm tin đối với AI. Theo ông, ĐMST cần đi đôi với bảo vệ quyền riêng tư, quyền tiếp cận thông tin, trách nhiệm giải trình và sự giám sát của con người.
Đánh giá cao cơ hội của Việt Nam trong việc tham gia định hình tương lai công nghệ mới, ông Baker kêu gọi tăng cường hợp tác liên khu vực để chia sẻ tri thức và nguồn lực, đảm bảo mọi quốc gia không chỉ dừng ở vai trò người sử dụng mà còn trực tiếp đóng góp vào việc kiến tạo tương lai số./.
