Ứng dụng kỹ thuật IMRT: Hiệu quả vượt trội, mở rộng cơ hội sống cho người ung thư phổi
Việc ứng dụng kỹ thuật xạ trị điều biến liều (IMRT) trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện Đa khoa Hải Dương đang mở ra hướng tiếp cận điều trị hiện đại, hiệu quả và tiết kiệm chi phí cho người bệnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều tín hiệu tích cực, góp phần khẳng định vai trò của công nghệ cao trong y học địa phương.
Làm chủ kỹ thuật hiện đại ngay tại tuyến tỉnh
Ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm khoảng 80-85% tổng số ca ung thư phổi. Việc điều trị bệnh thường đòi hỏi sự phối hợp đa mô thức như phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Trong đó, xạ trị điều biến liều (IMRT) được xem là bước tiến quan trọng nhờ khả năng tối ưu hóa liều chiếu, tập trung vào khối u và giảm thiểu ảnh hưởng đến mô lành.
Trước đây, kỹ thuật này chủ yếu được triển khai tại các bệnh viện tuyến Trung ương. Việc Bệnh viện Đa khoa Hải Dương (nay là Bệnh viện Đa khoa Hải Dương, TP. Hải Phòng) làm chủ và ứng dụng thành công IMRT đã mở ra cơ hội điều trị chất lượng cao ngay tại địa phương.

Tại Hội nghị của Hội đồng khoa học đã tổ chức nghiệm thu đề tài “Ứng dụng kỹ thuật xạ trị điều biến liều trong điều trị bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương” do Sở KH&CN chủ trì tổ chức ngày 24/4/2026, TS. BS. Vũ Minh Hiệp, Chủ nhiệm đề tài cho biết: “Điểm cốt lõi của IMRT là cá thể hóa liều xạ trị theo từng bệnh nhân. Nhờ đó, chúng tôi vừa đảm bảo tiêu diệt tối đa tế bào ung thư, vừa giảm thiểu tác dụng phụ, nâng cao chất lượng sống cho người bệnh”.
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích hồi cứu trên 60 bệnh nhân điều trị giai đoạn 2020-2023. Kết quả cho thấy: tỷ lệ kiểm soát bệnh đạt 81,7%; tỷ lệ đáp ứng chung đạt 75%; đáp ứng hoàn toàn là 20%; đáp ứng một phần là 55%.
Đáng chú ý, tỷ lệ sống thêm toàn bộ sau 12 tháng đạt 95,8% và sau 18 tháng đạt 86,6% - con số tích cực trong điều trị ung thư phổi. Thời gian sống thêm toàn bộ trung bình đạt hơn 29 tháng, trong khi thời gian sống không tiến triển bệnh trung bình gần 22 tháng.
Theo các chuyên gia, đây là kết quả khả quan, tiệm cận với các trung tâm điều trị lớn trong nước. Đây là một trong những nghiên cứu mang tính ứng dụng cao, hướng tới nâng cao hiệu quả điều trị ung thư phổi - căn bệnh đang có tỷ lệ mắc và tử vong hàng đầu tại Việt Nam.
Hoàn thiện quy trình điều trị phù hợp điều kiện địa phương
Một trong những lo ngại lớn khi điều trị ung thư là tác dụng phụ. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy phần lớn tác dụng phụ của IMRT ở mức độ nhẹ: 81,7% bệnh nhân gặp tác dụng phụ, chủ yếu là nôn, buồn nôn, rụng tóc, giảm huyết sắc tố, viêm phổi, viêm thực quản. Điểm tích cực là đa số ở mức độ 1-2, có thể kiểm soát được và không ảnh hưởng đến quá trình điều trị.
Các yếu tố như liều xạ trung bình của phổi, liều tối đa tủy sống hay chỉ số V20Gy toàn phổi được xác định có liên quan đến nguy cơ tác dụng phụ, giúp bác sĩ điều chỉnh phác đồ hợp lý hơn.
Không dừng lại ở phân tích hồi cứu, nhóm nghiên cứu tiếp tục triển khai nghiên cứu tiến cứu trên 30 bệnh nhân. Kết quả cho thấy: tỷ lệ kiểm soát bệnh đạt 90%; tỷ lệ đáp ứng chung đạt 73,3%; tác dụng phụ giảm xuống còn 63,3%. Đặc biệt, 83,3% bệnh nhân được sử dụng đủ liều hóa chất theo chỉ định, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị tổng thể.
TS. BS. Vũ Minh Hiệp nhận định: “Khi quy trình được chuẩn hóa và bác sĩ tích lũy thêm kinh nghiệm, hiệu quả điều trị tăng lên rõ rệt, đồng thời giảm tỷ lệ tác dụng phụ”.
Một điểm mạnh của đề tài là phân tích sâu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị như: Hút thuốc lá làm giảm tỷ lệ đáp ứng; Liều xạ PTV6000 và CTV6000 ảnh hưởng trực tiếp đến kiểm soát khối u; Chỉ số V20Gy toàn phổi liên quan đến tác dụng phụ; Nhóm tuổi có ảnh hưởng đến khả năng dung nạp điều trị.
Những kết quả này giúp bác sĩ cá thể hóa phác đồ, nâng cao hiệu quả và giảm rủi ro cho từng bệnh nhân.
Trong khuôn khổ đề tài, nhóm nghiên cứu đã xây dựng và hoàn thiện quy trình xạ trị IMRT cho ung thư phổi không tế bào nhỏ, phù hợp với điều kiện thực tế tại Hải Dương cũ (nay là TP. Hải Phòng). Đây là cơ sở quan trọng để nhân rộng mô hình ra các bệnh viện tuyến tỉnh khác.
Đại diện Hội đồng nghiệm thu đánh giá: “Đề tài không chỉ có giá trị khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn cao, góp phần nâng cao năng lực điều trị ung thư tại tuyến cơ sở”.

TS. Lê Lương Thịnh, Phó Giám đốc Sở KH&CN Hải Phòng, Phó Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu đề tài, chủ trì Hội nghị nhấn mạnh: “Việc triển khai thành công kỹ thuật xạ trị điều biến liều tại bệnh viện tuyến tỉnh giúp giảm đáng kể tình trạng quá tải tại các bệnh viện Trung ương. Quan trọng hơn, người bệnh được điều trị kịp thời, đúng phác đồ, tăng cơ hội sống”.
TS. Lê Lương Thịnh cũng cho rằng cần tiếp tục đầu tư trang thiết bị, đào tạo nhân lực và hoàn thiện quy trình để mở rộng ứng dụng.
Người dân hưởng lợi: Giảm chi phí, giảm áp lực tinh thần
Với người bệnh, lợi ích không chỉ nằm ở hiệu quả điều trị mà còn ở chi phí và tâm lý. Chị Nguyễn Thị Hà, người nhà bệnh nhân chia sẻ: “Trước đây, gia đình tôi tính đưa bố lên Hà Nội điều trị, nhưng chi phí đi lại, ăn ở rất tốn kém. Nay, điều trị ngay tại Hải Phòng vừa tiết kiệm, vừa đỡ vất vả”.
Nhiều bệnh nhân cũng cho biết việc được điều trị gần nhà giúp họ duy trì tinh thần ổn định - yếu tố quan trọng trong cuộc chiến với ung thư.
Dù đạt kết quả tích cực, các chuyên gia cho rằng cần tiếp tục theo dõi dài hạn để đánh giá chính xác hơn hiệu quả sống còn. Một thành viên Hội đồng góp ý: “Cần cập nhật thêm dữ liệu theo dõi sau nghiên cứu tiến cứu, đồng thời làm rõ điều kiện để nhân rộng mô hình. Ngoài ra, nên bổ sung phân tích sâu hơn về các mô bệnh học và đáp ứng điều trị”.
Hướng đi tương lai: Cá thể hóa điều trị ung thư
Sự thành công của đề tài cho thấy xu hướng tất yếu của y học hiện đại là cá thể hóa điều trị. Xạ trị điều biến liều không chỉ là công nghệ, mà còn là nền tảng để tích hợp với các phương pháp khác như miễn dịch trị liệu hay điều trị đích.
TS. BS. Vũ Minh Hiệp chia sẻ thêm: “Trong tương lai, chúng tôi hướng tới kết hợp IMRT với các kỹ thuật mới nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả điều trị và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân”.
Việc ứng dụng thành công kỹ thuật xạ trị điều biến liều trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện Đa khoa Hải Dương đánh dấu bước tiến quan trọng của y tế địa phương.
Không chỉ nâng cao chất lượng điều trị, đề tài còn góp phần giảm tải cho tuyến trên, tiết kiệm chi phí cho người dân và mở rộng cơ hội tiếp cận công nghệ cao.
Trong bối cảnh ung thư ngày càng gia tăng, những nghiên cứu mang tính ứng dụng như vậy chính là chìa khóa để nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh Việt Nam./.
