Ý kiến chuyên gia

Từ quốc tế hoá học thuật đến xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa

TS. Lê Văn Út, Phó Hiệu trưởng kiêm Viện trưởng Viện Đo lường khoa học và Chính sách quản trị nghiên cứu (SARAP), Trường Đại học Hoa Sen 20/08/2026 15:20

Trên cơ sở phân tích dữ liệu quốc tế và sự phát triển của công bố khoa học quốc tế của Việt Nam trong gần 20 năm qua, bài viết đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa Việt Nam: Tăng cường quốc tế hóa các sản phẩm này, trong đó có việc hỗ trợ đưa những sản phẩm phù hợp vào các cơ sở dữ liệu khoa học uy tín trên thế giới.

Từ chủ trương của Đảng đến dự thảo luật

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã dành nhiều nội dung quan trọng cho phát triển công nghiệp văn hóa.

Trước hết, Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP; đến năm 2045, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo trở thành một trong những trụ cột của phát triển bền vững và phấn đấu đóng góp 9% GDP.

Nghị quyết đồng thời xác định các lĩnh vực công nghiệp văn hóa cần ưu tiên phát triển như điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang, thủ công truyền thống, trò chơi điện tử, ẩm thực, phần mềm và nội dung số; gắn quá trình phát triển với ứng dụng công nghệ cao trong chuỗi sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu thụ và bảo vệ bản quyền.

Một định hướng quan trọng khác là xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, hình thành các cụm, khu, tổ hợp văn hóa - sáng tạo, các tập đoàn văn hóa - sáng tạo và sàn giao dịch sản phẩm văn hóa, nghệ thuật; đồng thời xây dựng thương hiệu quốc gia, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ văn hóa và nâng cao sức mạnh mềm của Việt Nam. Nghị quyết cũng xác định doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp trong công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo và giải trí, là động lực then chốt thúc đẩy đổi mới sáng tạo văn hóa.

Đáng chú ý, về thể chế, Nghị quyết 80 yêu cầu tập trung xây dựng các luật về hoạt động nghệ thuật, văn học, bản quyền tác giả và công nghiệp văn hóa; đồng thời hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm khơi thông các nguồn lực phát triển văn hóa. Đây là một cơ sở chính trị trực tiếp cho quá trình xây dựng Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa mà Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến [1, 2].

Trong bối cảnh đó, vấn đề không chỉ là tạo ra các sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị, mà còn phải đưa được những sản phẩm này ra thị trường quốc tế. Xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa vì vậy là một mắt xích quan trọng để chuyển hóa nguồn lực văn hóa và năng lực sáng tạo thành giá trị kinh tế, thương hiệu quốc gia và sức mạnh mềm của Việt Nam.

Xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hoá: Một điều luật quan trọng

Một trong những nội dung quan trọng của Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là Điều 37 về “Xúc tiến xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa”. Điều 37 xác định các tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và chủ thể sáng tạo đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật được hưởng chính sách hỗ trợ xúc tiến và phát triển thị trường.

2.png
Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa khu vực miền Bắc. (Ảnh: BVH)

Các hình thức hỗ trợ bao gồm cung cấp thông tin thị trường, kết nối đối tác và mạng lưới phân phối trong nước, quốc tế; tham gia hội chợ, triển lãm, liên hoan, hội nghị, diễn đàn; đến quảng bá và phân phối sản phẩm, dịch vụ trên các nền tảng số và hệ thống phân phối trong nước, quốc tế.

Đặc biệt, Điều 37 cũng quy định các chính sách hỗ trợ khi sản phẩm công nghiệp văn hóa bước ra thị trường quốc tế, thông qua các chính sách hỗ trợ đăng ký, xác lập, bảo hộ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ; tư vấn pháp lý; dịch thuật, bản địa hóa và các hoạt động cần thiết để phát triển thị trường quốc tế.

Dự thảo Luật cũng đặt hoạt động xúc tiến công nghiệp văn hóa quốc gia trong mối liên kết với Chương trình Thương hiệu quốc gia, Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, Chương trình xúc tiến đầu tư và các chương trình quốc gia có liên quan.

Đây là một điều luật quan trọng bởi phát triển công nghiệp văn hóa không thể chỉ dừng ở năng lực sáng tạo và tạo ra sản phẩm. Một nền công nghiệp chỉ thực sự phát triển khi sản phẩm có khả năng tiếp cận thị trường, tạo doanh thu và mở rộng quy mô.

Đối với công nghiệp văn hóa, xuất khẩu còn có ý nghĩa rộng hơn giá trị kinh tế: Mỗi sản phẩm được thị trường quốc tế tiếp nhận đồng thời có thể góp phần đưa văn hóa, hình ảnh và thương hiệu Việt Nam ra thế giới. Vì vậy, việc Dự thảo Luật dành riêng Điều 37 cho xúc tiến xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa là cần thiết.

Tuy nhiên, để thúc đẩy xuất khẩu, một vấn đề cần được quan tâm là mức độ hiện diện quốc tế của các sản phẩm công nghiệp văn hóa Việt Nam. Bên cạnh các kênh thương mại và phân phối thông thường, một số loại sản phẩm công nghiệp văn hóa còn có thể được công bố và chỉ mục trong các cơ sở dữ liệu khoa học quốc tế. Việt Nam hiện diện như thế nào trên kênh quốc tế hóa này?

Quốc tế hoá sản phẩm công nghiệp văn hoá phục vụ xuất khẩu

Theo thống kê từ 4 nhà xuất bản lớn gồm Springer Nature (Đức), Elsevier (Hà Lan), Taylor & Francis (Vương quốc Anh) và Wiley (Hoa Kỳ), có đến 62 loại sản phẩm khoa học được các nhà xuất bản này công bố [3]. Thêm nữa, Web of Science (WoS), một trong những cơ sở dữ liệu khoa học hàng đầu thế giới, thống kê 35 loại sản phẩm khoa học khác nhau.

Trong số các loại sản phẩm được WoS chỉ mục có những sản phẩm mang nội dung văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo. Việc các sản phẩm công nghiệp văn hóa có thể xuất hiện trong những cơ sở dữ liệu khoa học quốc tế uy tín mở ra thêm một kênh để sản phẩm được giới thiệu, phổ biến và tiếp cận công chúng quốc tế.

Vì vậy, bên cạnh các kênh xuất khẩu truyền thống và các nền tảng số, quốc tế hóa sản phẩm công nghiệp văn hóa thông qua các kênh xuất bản và cơ sở dữ liệu quốc tế có thể được xem là một hướng đi cần được quan tâm trong chiến lược quảng bá, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường quốc tế và khẳng định giá trị của sản phẩm công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Theo dữ liệu 10 năm của WoS, giai đoạn 2016 - 2025 (truy xuất lúc 23:30 ngày 10/8/2026), các loại sản phẩm liên quan đến công nghiệp văn hóa trên thế giới đã được WoS chỉ mục gồm: thơ; bài bình luận về triển lãm nghệ thuật; bài bình luận về phim; bài bình luận về chương trình biểu diễn âm nhạc; tác phẩm hư cấu, sáng tác văn xuôi; bài bình luận về chương trình biểu diễn múa; bài bình luận về chương trình sân khấu; bài bình luận về chương trình truyền hình, phát thanh hoặc video; bài bình luận về bản nhạc; và bản nhạc.

Kết quả thống kê cho thấy sự khác biệt rất lớn giữa Việt Nam và thế giới đối với các loại sản phẩm này trong cùng giai đoạn.

ut2.png
Đối sánh thành tựu sản phẩm công nghiệp văn hóa giữa Việt Nam và thế giới trong 10 năm qua theo WoS. (Ảnh: TG).

Kết quả trên cho thấy trong 10 năm qua, Việt Nam đã có một số sản phẩm thuộc các nhóm sản phẩm công nghiệp văn hóa nêu trên được WoS chỉ mục, qua đó cho thấy những sản phẩm này đã có sự hiện diện nhất định trên một cơ sở dữ liệu khoa học quốc tế. Tuy nhiên, chỉ 6 sản phẩm của Việt Nam so với 118.362 sản phẩm trên toàn thế giới cho thấy một khoảng cách rất lớn.

Kết quả này cũng gợi mở một vấn đề đáng quan tâm trong quá trình hoàn thiện chính sách xúc tiến xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa: bên cạnh hỗ trợ tiếp cận thị trường, mạng lưới phân phối, nền tảng số, sở hữu trí tuệ, dịch thuật và bản địa hóa như Điều 37 của Dự thảo Luật đã đề cập, cần quan tâm đến việc quốc tế hóa sản phẩm ngay từ khâu sáng tạo, công bố và phổ biến, qua đó tạo thêm những con đường để sản phẩm công nghiệp văn hóa Việt Nam hiện diện, được nhận diện và tiếp cận công chúng quốc tế.

Giải pháp cụ thể: Từ kinh nghiệm quốc tế hóa công bố khoa học đến sản phẩm công nghiệp văn hóa

Khoảng 20 năm trước, mức độ hiện diện của khoa học Việt Nam trên các cơ sở dữ liệu quốc tế còn rất hạn chế. Theo dữ liệu WoS (truy xuất ngày 17/8/2026), năm 2006, thế giới có 1.859.829 sản phẩm khoa học được thống kê, trong khi Việt Nam chỉ có 881 sản phẩm, tương đương khoảng 0,047% của thế giới.

Năm 2025, số lượng của thế giới tăng lên 4.407.129, gấp 2,37 lần, trong khi Việt Nam đạt 20.075, gấp gần 22,8 lần so với năm 2006. Theo đó, tỷ trọng của Việt Nam trong tổng sản lượng thế giới tăng từ khoảng 0,047% lên 0,456%, tức tăng gần 10 lần sau 19 năm. Những con số này cho thấy năng lực công bố và mức độ hiện diện quốc tế của khoa học Việt Nam đã có sự thay đổi rất lớn trong khoảng hai thập niên qua.

Sự thay đổi này không chỉ đến từ sự phát triển của đội ngũ khoa học mà còn gắn với quá trình hình thành và triển khai các cơ chế, chính sách thúc đẩy nghiên cứu và công bố quốc tế.

Từ chỗ công bố quốc tế còn gặp nhiều khó khăn, Việt Nam đã từng bước tăng đầu tư cho nghiên cứu, tài trợ đề tài, đào tạo nhân lực, phát triển hợp tác quốc tế, hỗ trợ và khuyến khích công bố, đồng thời sử dụng kết quả công bố quốc tế trong đánh giá hoạt động khoa học và phát triển đội ngũ [4]. Kinh nghiệm này cho thấy, khi có định hướng rõ ràng, chính sách phù hợp và được thực hiện trong một thời gian đủ dài, khoảng cách về mức độ hiện diện quốc tế hoàn toàn có thể được thu hẹp đáng kể.

Đây là một kinh nghiệm đáng tham khảo cho phát triển công nghiệp văn hóa. Tất nhiên, công bố khoa học và xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa là hai lĩnh vực khác nhau, nhưng có một điểm chung quan trọng: muốn sản phẩm trong nước hiện diện mạnh mẽ trên thị trường quốc tế thì phải xây dựng năng lực quốc tế hóa ngay từ trong nước.

Vì vậy, bên cạnh các chính sách xúc tiến xuất khẩu được đề cập tại Điều 37 của Dự thảo Luật, cần có những cơ chế cụ thể hỗ trợ sản phẩm công nghiệp văn hóa từ quá trình sáng tạo, nâng cao chất lượng, dịch thuật, bản địa hóa, bảo hộ sở hữu trí tuệ đến kết nối với các nhà xuất bản, nhà phân phối, nền tảng và đối tác quốc tế.

Điều 37 hiện đã quy định nhiều công cụ hỗ trợ theo hướng này, bao gồm cung cấp thông tin thị trường, kết nối đối tác và mạng lưới phân phối; quảng bá, phân phối trên nền tảng số; hỗ trợ sở hữu trí tuệ, tư vấn pháp lý, dịch thuật, bản địa hóa và phát triển thị trường quốc tế.

Đặc biệt, cần xem quốc tế hóa là một quá trình đi trước và hỗ trợ cho xuất khẩu, chứ không chỉ thực hiện xúc tiến khi sản phẩm đã hoàn thành. Đối với những loại sản phẩm công nghiệp văn hóa phù hợp, cần có chính sách hỗ trợ đưa sản phẩm vào các kênh xuất bản, giới thiệu, phân phối và cơ sở dữ liệu quốc tế có uy tín; đồng thời có cơ chế ghi nhận, hỗ trợ và khuyến khích các chủ thể sáng tạo có sản phẩm đạt được sự hiện diện quốc tế.

Kinh nghiệm gần 20 năm phát triển công bố khoa học quốc tế của Việt Nam cho thấy một xuất phát điểm thấp không nhất thiết quyết định vị trí trong tương lai nếu có chính sách đúng, nguồn lực phù hợp và một chiến lược quốc tế hóa được triển khai kiên trì.

ut.jpg
Tác giả bài viết góp ý cho Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. (Ảnh: TG)

Từ những phân tích trên, tác giả đề nghị bổ sung vào Điều 37 hoặc một điều khoản phù hợp khác của Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa nội dung về hỗ trợ và thúc đẩy quốc tế hóa sản phẩm công nghiệp văn hóa Việt Nam, trong đó có việc đưa các sản phẩm phù hợp vào các cơ sở dữ liệu khoa học uy tín trên thế giới, như Web of Science (WoS).

Việc này có thể góp phần gia tăng mức độ hiện diện, khả năng được tìm kiếm, tiếp cận và ghi nhận của sản phẩm công nghiệp văn hóa Việt Nam trên phạm vi quốc tế, qua đó hỗ trợ hoạt động quảng bá, phát triển thị trường và xúc tiến xuất khẩu. Đây cũng là một hướng bổ sung cho Điều 37, bởi điều luật hiện đã đề cập khá toàn diện các hoạt động hỗ trợ phát triển thị trường quốc tế nhưng chưa quy định cụ thể việc hỗ trợ sản phẩm công nghiệp văn hóa hiện diện trong các cơ sở dữ liệu quốc tế có uy tín./.

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (2026), D thảo Luật phát triển công nghiệp văn hoá (phiên bản 1.0, ngày 04/8/2026).

[2] Viện SARAP - HSU (2026), Đại diện Trường Đại học Hoa Sen góp ý Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, https://rec.hoasen.edu.vn/vien-truong-vien-sarap-dai-dien-hsu-gop-y-du-thao-luat-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa/, truy cập ngày 11/08/2026.

[3] Lê Văn Út và Thân Đức Dũng (2025), Phân loại bài báo khoa học và các đề xuất chiến lược về chính sách quản trị nghiên cứu liên quan, Báo cáo nghiên cứu chiến lược về chính sách quản trị nghiên cứu, Nhóm Nghiên cứu đo lường khoa học và Chính sách quản trị nghiên cứu (SARAP) (32 trang).

[4] Nguyễn Văn Tuấn (2012), Những rào cản công bố kết quả nghiên cứu khoa học quốc tế, https://vietnamnet.vn/nhung-rao-can-cong-bo-ket-qua-nghien-cuu-khoa-hoc-quoc-te-80154.html, truy cập ngày 12/07/2012.

Nổi bật
    Mới nhất
    Từ quốc tế hoá học thuật đến xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa