Từ đột phá thể chế và hạ tầng dữ liệu đến động lực tăng trưởng kinh tế số tại Phú Thọ
Tỉnh Phú Thọ ghi nhận những chuyển biến mang tính hệ thống trên ba trụ cột: thể chế điều hành dựa trên dữ liệu, hạ tầng viễn thông - dữ liệu dùng chung và phát triển kinh tế - xã hội số. Việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW) được xác định là đột phá chiến lược, tạo nền tảng nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của địa phương.
Đổi mới thể chế điều hành, quản trị bằng dữ liệu và giải pháp đột phá trong cải cách thủ tục hành chính
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và Quyết định số 204-QĐ/TW của Ban Bí thư ban hành Quy chế phối hợp công tác giữa đảng uỷ bộ, ngành Trung ương với cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng trong cơ sở giáo dục đại học công lập, tỉnh Phú Thọ chủ động chuyển đổi tư duy quản trị hành chính sang quản trị phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu số.
Tỉnh ủy và UBND tỉnh tập trung kiện toàn bộ máy chỉ đạo xuyên suốt từ cấp tỉnh đến cơ sở. Việc áp dụng Quy định số 215-QĐ/TW của Bộ Chính trị ngày 18/08/2026, Quyết định số 605-QĐ/TU ngày 10/9/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ và Quy định số 496-QĐ/TU ngày 10/9/2026 của Tỉnh ủy Phú Thọ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc của Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Phú Thọ, đã thống nhất một đầu mối Ban Chỉ đạo tỉnh, bảo đảm tính liên thông, không chồng chéo.
Đến tháng 9/2026, trong tổng số 276 nhiệm vụ được theo dõi, tổng hợp trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, tỉnh đã hoàn thành 170 nhiệm vụ (đạt 61,6%), đang thực hiện 5 nhiệm vụ (1,8%) và duy trì thực hiện thường xuyên 101 nhiệm vụ (36,6%), hoàn thành toàn bộ các chỉ tiêu không có nhiệm vụ quá hạn. Đối với Kế hoạch xử lý điểm nghẽn chuyển đổi số (KH100), địa phương hoàn thành 25/25 nhiệm vụ theo Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW, 9/9 nhiệm vụ theo Quyết định số 204-QĐ/TW, cùng 105/162 nhiệm vụ theo các Thông báo kết luận của Ban Chỉ đạo Trung ương [1, 2].

Hiệu quả quản trị hành chính công thể hiện rõ qua các chỉ số xử lý thủ tục hành chính. Toàn tỉnh quản lý 1.708 thủ tục hành chính cấp tỉnh và 463 thủ tục cấp xã. Trong chín tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh tiếp nhận 1.128.545 hồ sơ (gồm 1.082.839 hồ sơ tiếp nhận mới và 45.706 hồ sơ chuyển từ kỳ trước). Tỷ lệ hồ sơ tiếp nhận trực tuyến đạt 97,97% (1.060.907 hồ sơ), chỉ còn 2,13% hồ sơ nộp trực tiếp hoặc qua bưu chính. Tổng số hồ sơ đã giải quyết đạt 1.078.606 hồ sơ, trong đó tỷ lệ giải quyết đúng và trước hạn đạt 96,46% (1.040.471 hồ sơ). Nhằm khắc phục triệt để tình trạng trễ hạn, tỉnh phát động “Chiến dịch cao điểm 45 ngày” (từ 10/3/2026 đến 04/5/2026), xử lý dứt điểm 8.568/8.620 hồ sơ quá hạn, đạt tỷ lệ 99,39% [1].
Nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, Phú Thọ thử nghiệm cơ chế “Luồng xanh” đối với 88 dự án và nhóm dự án đầu tư trọng điểm. Mô hình phân lập thành “Luồng xanh 24 giờ” (tiếp nhận, giải quyết, trả kết quả trong 24 giờ đối với 5 thủ tục hành chính) và “Luồng xanh 50%” (cắt giảm 50% thời gian giải quyết đối với 18 thủ tục hành chính). Từ ngày 01/4/2026 đến 31/08/2026, toàn tỉnh tiếp nhận 544 hồ sơ thuộc Luồng xanh; đã giải quyết 539 hồ sơ, đạt tỷ lệ 100% đúng và trước hạn (trong đó có 506 hồ sơ Luồng xanh 24 giờ). Việc lồng ghép định hướng “AI-First” vào hạ tầng dịch vụ công bước đầu giúp giảm khoảng 50% thời gian tiếp nhận hồ sơ trực tuyến. Toàn bộ công tác chỉ đạo điều hành được thể chế hóa theo nguyên tắc “6 rõ”: “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thời hạn, rõ thẩm quyền” [1, 2].
Phát triển hạ tầng số, chuẩn hóa dữ liệu tập trung
Nhận thức dữ liệu là tài nguyên chiến lược, tỉnh Phú Thọ ban hành Chiến lược dữ liệu đến năm 2030, Khung kiến trúc dữ liệu, Khung quản trị dữ liệu và Từ điển dữ liệu dùng chung (phiên bản 1.0), đồng thời phát động “Chiến dịch 90 ngày xây dựng, hoàn thiện Kho dữ liệu tỉnh”. Hệ thống viễn thông phủ cáp quang băng thông rộng đến 100% xã, phường, ghi nhận trên 960.000 thuê bao Internet cố định và trên 3,6 triệu thuê bao di động. Tỷ lệ phủ sóng 4G đạt 98% diện tích với 9.283 trạm BTS. Hạ tầng 5G bứt phá mạnh mẽ khi phát triển mới 997 trạm BTS (tăng 7,1 lần so với trước ngày 01/7/2025), đưa tỷ lệ phủ sóng 5G đạt trên 65% dân số (vượt chỉ tiêu năm 2026 là 60%) và phủ 100% các khu công nghiệp, đô thị trung tâm; xóa sạch 100% “thôn lõm sóng” trên toàn địa bàn. Toàn tỉnh hiện tích hợp 3 Trung tâm dữ liệu (với 60 máy chủ vật lý, dung lượng 600 TB) để hợp nhất thành một Trung tâm dữ liệu duy nhất kết nối Trung tâm Dữ liệu quốc gia [1].

Công tác chuẩn hóa dữ liệu đạt hiệu quả cao với việc vận hành 6 cơ sở dữ liệu quốc gia, 7 cơ sở dữ liệu chuyên ngành trọng điểm và 47 cơ sở dữ liệu chuyên ngành cấp tỉnh theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Phú Thọ đồng bộ 100% dữ liệu đất đai; 100% cơ sở giáo dục ứng dụng học bạ số; làm sạch 100% cơ sở dữ liệu đảng viên. Trong các cơ quan Đảng, tỷ lệ xử lý văn bản đi toàn trình đạt 92,8%, văn bản đến toàn trình đạt 93,9%, đứng thứ 1/34 tỉnh, thành phố và 1/58 đảng bộ cả nước; 90,04% đảng viên ứng dụng “Sổ tay đảng viên điện tử” [1, 2].
Lan tỏa kinh tế số - xã hội số và động lực tăng trưởng
Cấu trúc kinh tế số của tỉnh Phú Thọ ghi nhận đà tăng trưởng mạnh với 567 doanh nghiệp phần mềm, 3.300 doanh nghiệp hoạt động nội dung số và 1.611 doanh nghiệp dịch vụ công nghệ số (gồm 229 doanh nghiệp FDI). Sản xuất máy tính xách tay ước đạt 25,4 triệu sản phẩm (tăng 34,3%); dịch vụ sản xuất linh kiện điện tử ước đạt 248,3 nghìn tỷ đồng (tăng 34,1% so với cùng kỳ năm 2025). Doanh thu bưu chính, viễn thông chín tháng lũy kế ước đạt 4.800 tỷ đồng (tăng 6,5%). 100% cơ sở y tế, giáo dục, hành chính công và hệ thống siêu thị áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt [1].

Về xã hội số, tỉnh cấp căn cước công dân cho trên 3,1 triệu người; kích hoạt 2.438.487/2.575.109 tài khoản định danh điện tử VNeID. Mô hình “Bình dân học vụ số” lan tỏa sâu rộng thông qua lực lượng nòng cốt là 148 Tổ công nghệ số cộng đồng với khẩu hiệu “đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người dân”. Các mô hình tiêu biểu như “Gia đình số”, “Chợ số - Nông thôn số”, “Đại sứ số”, “Làng số”, “Chợ phụ nữ Online”, “Khu dân cư số gắn với Đề án 06 và phong trào Bình dân học vụ số” tại xã Chân Mộng, hay xã Thổ Tang (95% người trưởng thành có kỹ năng số, 92% sử dụng VNeID) chứng minh hiệu quả thiết thực. Đặc biệt, ngành Y tế triển khai Dự án “Cơ hội AI dành cho nhân viên y tế”, tập huấn ứng dụng AI cho 6.688 lượt cán bộ y tế [1, 2].
Những kết quả trên khẳng định Phú Thọ đang hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW theo hướng đồng bộ, lấy dữ liệu làm trung tâm và hiệu quả thực chất làm thước đo, góp phần kiến tạo động lực tăng trưởng mới cho địa phương trong giai đoạn phát triển tiếp theo./.
Tài liệu tham khảo:
[1] Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ (2026), Báo cáo số 399/BC-SKHCN ngày 05/10/2026 về “Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kết quả thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm, nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026”.
[2] Ban Chỉ đạo về phát triển Khoa học, Công nghệ, Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số tỉnh Phú Thọ (2026), Báo cáo số 10-BC/BCĐ ngày 23/9/2026 “Sơ kết tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Quyết định số 204-QĐ/TW của Ban Bí thư trong Quý III và nhiệm vụ, giải pháp Quý IV năm 2026”.
