Bản A

TP. Hồ Chí Minh thí điểm có kiểm soát chính sách thúc đẩy thương mại hóa công nghệ

Nguyễn Trần Hải Đăng - Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ và Sở hữu trí tuệ CIPTEK 22/04/2026 10:11

Từ khoa học và công nghệ (KH&CN) thành giá trị kinh tế luôn là một khoảng cách đáng kể. Chính vì vậy, với vai trò là đầu tàu kinh tế của cả nước, TP. Hồ Chí Minh đã có một bước đi đột phá, tiên phong để kiến tạo nên một không gian thử nghiệm chính sách có kiểm soát (sandbox) đối với hoạt động thương mại hóa tài sản trí tuệ (TSTT) thông qua việc ban hành Quyết định số 3053/QĐ-UBND ngày 05/12/2025 về việc phê duyệt Đề án “Thí điểm chính sách tạo động lực thương mại hóa, đưa nhanh kết quả nghiên cứ

Rào cản pháp lý trong thương mại hóa tài sản trí tuệ

Một trong những trở ngại lớn nhất đối với quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và TSTT hình thành từ ngân sách nhà nước tại Việt Nam nằm ở khung khổ pháp lý điều chỉnh việc quản lý và khai thác các tài sản này. Theo quy định trước đây tại Nghị định số 70/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ về quản lý và sử dụng tài sản hình thành thông qua việc triển khai nhiệm vụ KH&CN sử dụng vốn nhà nước, các kết quả nghiên cứu và TSTT tạo ra từ nguồn kinh phí này được xem là tài sản công và phải tuân thủ các nguyên tắc quản lý tài sản công tương tự như các loại tài sản hữu hình khác.

Cách tiếp cận này tuy bảo đảm yêu cầu quản lý chặt chẽ ngân sách nhà nước nhưng lại chưa phản ánh đầy đủ đặc thù của TSTT, vốn có giá trị phụ thuộc nhiều vào thị trường, khả năng ứng dụng và tốc độ đổi mới công nghệ. Trong thực tế, quy trình định giá TSTT theo các quy định hiện hành thường kéo dài, thiếu linh hoạt và khó áp dụng đối với các công nghệ mới chưa có tiền lệ trên thị trường. Điều này khiến nhiều viện, trường, tổ chức nghiên cứu gặp khó khăn khi muốn chuyển giao hoặc khai thác thương mại các kết quả nghiên cứu của mình.

1(2).jpg
Đổi mới mô hình quản trị phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yêu cầu quan trọng để hội nhập. Ảnh: TG.

Nhằm tháo gỡ những rào cản này, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 đã đưa ra một giải pháp mang tính cải cách khi trao quyền tự chủ rộng hơn cho các viện, trường, tổ chức nghiên cứu trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Theo quy định tại Điều 27 của Luật này, chủ sở hữu kết quả nghiên cứu có quyền tự quyết định phương thức thương mại hóa, lựa chọn đối tác, xác định giá trị giao dịch và phân chia lợi ích từ việc khai thác kết quả nghiên cứu. Trong trường hợp sử dụng kết quả nghiên cứu để góp vốn thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác kinh doanh, các bên cũng được quyền tự thỏa thuận về phương án định giá và tỷ lệ vốn góp.

Tuy nhiên, việc mở rộng quyền tự chủ này đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới đối với hệ thống quản trị công. Khi các viện, trường, tổ chức nghiên cứu được trao quyền định giá và thương mại hóa TSTT mà chưa có tiêu chí đánh giá hiệu quả hoặc cơ chế kiểm soát rõ ràng, sẽ dẫn đến nguy cơ thất thoát tài sản công hoặc sử dụng tài sản công kém hiệu quả. Ngoài ra, người đứng đầu các tổ chức chủ trì nhiệm vụ KH&CN cũng có thể phải đối mặt với rủi ro trách nhiệm pháp lý nếu việc thương mại hóa không đạt hiệu quả hoặc gây ra những tranh chấp liên quan đến định giá tài sản.

Có thể nhận thấy rằng, mặc dù việc thể chế hóa các định hướng của Trung ương thành quy định pháp luật đã phần nào giúp tháo gỡ một số “điểm nghẽn” trong cơ chế quản lý TSTT từ ngân sách nhà nước, nhưng đồng thời lại tạo ra một “điểm mù” mới. “Điểm mù” này thể hiện ở chỗ các tổ chức nghiên cứu được trao quyền lớn hơn trong việc khai thác TSTT, nhưng hệ thống hỗ trợ và giám sát cần thiết để thực hiện quyền này một cách hiệu quả vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, dễ tạo thành rào cản giữa quyền được trao và năng lực thực thi trên thực tế. Rào cản này có thể dẫn đến 2 tình huống không có lợi cho các tổ chức nghiên cứu: Một là sự thận trọng quá mức làm triệt tiêu động lực thương mại hóa; hai là các quyết định khai thác thiếu căn cứ thị trường, tiềm ẩn rủi ro thất thoát tài sản công và trách nhiệm pháp lý.

Những khoảng trống

Trong các nghiên cứu về hoạt động ĐMST, có một khái niệm thường được nhắc đến đó là “commercialization gap” (khoảng trống thương mại hóa) hoặc “valley of death” (thung lũng tử thần) dùng để mô tả giai đoạn rủi ro cao khi một ý tưởng, công nghệ mới được tạo từ hoạt động nghiên cứu khó chuyển sang sản phẩm thương mại thực tế. Đây là giai đoạn chuyển tiếp mà trong đó một công nghệ đã vượt qua nghiên cứu cơ bản nhưng chưa đủ hoàn thiện về mặt kỹ thuật để được thị trường chấp nhận. Đồng thời, đó cũng là lúc nguồn vốn công (tài trợ nghiên cứu) đã hết, trong khi đầu tư tư nhân chưa đổ vào do rủi ro lớn. Ở giai đoạn này, công nghệ đồng thời phải đối mặt với nhiều loại rủi ro, bao gồm rủi ro kỹ thuật, rủi ro thị trường và rủi ro tài chính. Việc thiếu nguồn lực để tiếp tục phát triển, thiếu thông tin về nhu cầu thị trường và thiếu các cơ chế hỗ trợ phù hợp thường khiến nhiều kết quả nghiên cứu không thể vượt qua giai đoạn này và “chết yểu” trước khi được thương mại hóa.

2(2).jpg
Thành lập Công ty Cổ phần Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP. Hồ Chí Minh nhằm bổ sung tài chính quan trọng cho mô hình sandbox. Ảnh: TG.

Tại Việt Nam, khoảng trống thương mại hóa nêu trên không chỉ tồn tại dưới dạng một vấn đề công nghệ hay thị trường, mà còn được khuếch đại bởi các yếu tố thể chế đặc thù và cấu trúc chưa hoàn thiện của hệ sinh thái ĐMST. Cụ thể, các quy định về quản lý tài sản công, quy trình định giá TSTT và trách nhiệm pháp lý đối với người đứng đầu tổ chức nghiên cứu đã làm gia tăng đáng kể chi phí và rủi ro pháp lý trong quá trình thương mại hóa. Hệ quả là trong nhiều trường hợp, rủi ro pháp lý thậm chí trở thành yếu tố chi phối hành vi, khiến các tổ chức nghiên cứu lựa chọn phương án an toàn là không thương mại hóa thay vì chấp nhận rủi ro thị trường.

Những rào cản thể chế này tiếp tục tương tác với các hạn chế mang tính cấu trúc của hệ sinh thái ĐMST hiện nay. Hoạt động nghiên cứu tại các viện, trường vẫn chủ yếu hướng tới mục đích công bố khoa học, trong khi mục tiêu thương mại hóa chưa được tích hợp đầy đủ vào chiến lược phát triển. Đồng thời, sự thiếu hụt các tổ chức trung gian chuyên nghiệp như các văn phòng chuyển giao công nghệ (Technology transfer office - TTO) làm suy giảm khả năng kết nối giữa tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp, khiến các kết quả nghiên cứu khó tìm được đầu ra phù hợp.

Bên cạnh đó, giai đoạn hoàn thiện công nghệ vốn đóng vai trò quyết định trong việc vượt qua “thung lũng tử thần” lại thiếu các cơ chế tài chính linh hoạt để hỗ trợ thử nghiệm, kiểm định và phát triển sản phẩm. Những yếu tố này không tồn tại riêng lẻ mà cộng hưởng với nhau, làm cho khoảng cách thương mại hóa tại Việt Nam trở nên sâu hơn và khó vượt qua hơn so với nhiều hệ sinh thái ĐMST khác trên thế giới.

Từ góc độ lý thuyết, việc “bắc cầu” để vượt qua “thung lũng tử thần” đòi hỏi sự can thiệp đồng bộ của chính sách nhằm giảm thiểu đồng thời các rủi ro kỹ thuật, thị trường và tài chính. Điều này thường được thực hiện thông qua ba nhóm công cụ chính, bao gồm hỗ trợ tài chính cho giai đoạn tiền thương mại hóa, phát triển các tổ chức trung gian và xây dựng khung pháp lý linh hoạt cho phép thử nghiệm các mô hình hợp tác mới.

Tiếp cận thử nghiệm từ nhiều phía

Trước những thách thức nêu trên, TP. Hồ Chí Minh đã triển khai Đề án thí điểm chính sách tạo động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu và TSTT được hình thành từ ngân sách nhà nước. Đây có thể được xem như một giải pháp tích hợp, không chỉ nhằm giải quyết từng rào cản riêng lẻ mà còn tạo ra một không gian an toàn để các yếu tố của hệ sinh thái ĐMST có thể tương tác và vận hành hiệu quả hơn.

Cách tiếp cận của Đề án có thể được hiểu như một mô hình “sandbox chính sách” trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Sandbox chính sách là một công cụ quản trị được nhiều quốc gia áp dụng trong các lĩnh vực có tốc độ đổi mới cao, cho phép thử nghiệm các cơ chế pháp lý mới trong phạm vi giới hạn về thời gian, đối tượng và điều kiện áp dụng. Thông qua quá trình thử nghiệm này, cơ quan quản lý có thể thu thập dữ liệu thực tiễn, đánh giá hiệu quả của chính sách và điều chỉnh khung pháp lý trước khi triển khai rộng rãi. Còn đối với các tổ chức nghiên cứu, việc các rủi ro được kiểm soát trong phạm vi chấp nhận được của cơ chế sandbox góp phần làm giảm áp lực trách nhiệm đối với các chủ thể tham gia, từ đó tạo điều kiện và khuyến khích các tổ chức chủ động hơn trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Trong trường hợp của TP. Hồ Chí Minh, sandbox được áp dụng nhằm tạo ra một không gian thể chế linh hoạt để thử nghiệm các cơ chế mới trong thương mại hóa TSTT từ ngân sách nhà nước. Đề án dự kiến được triển khai trong 3 năm từ năm 2026 đến năm 2028, đặt ra các mục tiêu cụ thể như nâng tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu lên khoảng 8-10% và hình thành các mô hình hợp tác hiệu quả giữa nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu.

Để thực hiện mục tiêu này, Đề án đã thiết lập các cơ chế thí điểm nhằm tháo gỡ những rào cản đang cản trở quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Trước hết, Đề án đưa ra cơ chế giao quyền đối với kết quả nghiên cứu và TSTT cho tổ chức chủ trì hoặc tổ chức tiếp nhận ứng dụng. Trong trường hợp tổ chức chủ trì không có nhu cầu hoặc không đủ năng lực triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu, cơ quan quản lý có thể giao kết quả nghiên cứu cho một tổ chức khác có nhu cầu tiếp nhận và phát triển tiếp công nghệ. Điểm đáng chú ý là cơ chế này cho phép việc chuyển giao được thực hiện ngay sau khi nhiệm vụ KH&CN kết thúc, thay vì phải chờ ba năm như một số quy định trước đây. Cách tiếp cận này giúp rút ngắn đáng kể thời gian đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường.

Bên cạnh cơ chế giao quyền, Đề án cũng thiết lập các chính sách hỗ trợ tài chính nhằm thúc đẩy quá trình hoàn thiện và phát triển sản phẩm. Cụ thể, ngân sách nhà nước có thể hỗ trợ một phần kinh phí cho các nhiệm vụ KH&CN tiếp tục hoàn thiện công nghệ, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư thông qua cơ chế đối ứng vốn. Ngoài ra, các dự án tham gia thí điểm còn được hỗ trợ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và tiếp cận các dịch vụ tư vấn liên quan đến quản trị TSTT, thành lập doanh nghiệp KH&CN hoặc phát triển sản phẩm.

Việc áp dụng mô hình sandbox trong bối cảnh này cho thấy sự chuyển biến trong tư duy quản lý nhà nước đối với hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thay vì chỉ dựa vào các quy định pháp luật mang tính cứng nhắc, cơ quan quản lý bắt đầu thử nghiệm những cơ chế linh hoạt hơn nhằm thích ứng với đặc thù của các lĩnh vực công nghệ mới.

Những bước đi song song

Để hoàn thiện các công cụ tài chính hỗ trợ thương mại hóa TSTT theo tinh thần của Đề án, TP. Hồ Chí Minh thành lập Công ty Cổ phần Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP. Hồ Chí Minh. Quỹ dự kiến có vốn điều lệ ban đầu 500 tỷ đồng, trong đó ngân sách thành phố góp 200 tỷ đồng (40%) và khu vực tư nhân góp 300 tỷ đồng (60%), đồng thời đặt mục tiêu nâng quy mô vốn lên tối thiểu 5.000 tỷ đồng vào năm 2035 thông qua việc huy động thêm nguồn lực xã hội. Với vai trò là “vốn mồi”, Quỹ được kỳ vọng dẫn dắt dòng vốn tư nhân tham gia đầu tư vào các doanh nghiệp công nghệ có tiềm năng tăng trưởng cao, đặc biệt ở giai đoạn đầu. Theo kế hoạch, trong giai đoạn 2026-2035, Quỹ sẽ đầu tư cho khoảng 50 đến 150 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và doanh nghiệp KH&CN, đồng thời hỗ trợ thương mại hóa ít nhất 50 sản phẩm hoặc công nghệ mới. Đáng chú ý, Quỹ đã nhận được sự tham gia của nhiều cổ đông sáng lập là các tập đoàn và quỹ đầu tư lớn như Sovico, VinGroup, VinaCapital, Becamex IDC, VNG, CT Group, Hoa Sen, Lotte Ventures, FPT.

Trong tổng thể Đề án, việc hình thành Quỹ đầu tư mạo hiểm này góp phần bổ sung một trụ cột tài chính quan trọng cho mô hình sandbox, qua đó tăng khả năng huy động nguồn lực xã hội và nâng cao xác suất thương mại hóa thành công các kết quả nghiên cứu.

Song song với việc hình thành Quỹ Đầu tư mạo hiểm, TP. Hồ Chí Minh cũng đang mở rộng các kênh huy động vốn cho KH&CN thông qua việc xây dựng cơ chế thu hút kiều hối. Theo định hướng, thành phố đặt mục tiêu huy động hơn 1.000 tỷ đồng nguồn kiều hối để đầu tư cho các dự án KH&CN và ĐMST, thông qua việc thiết kế các sản phẩm tài chính phù hợp và tạo điều kiện thuận lợi để dòng vốn này tham gia vào hệ sinh thái khởi nghiệp. Kênh tài chính này hướng tới việc kết nối nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với nhu cầu đầu tư cho các dự án công nghệ trong nước, đặc biệt ở giai đoạn phát triển và mở rộng thị trường.

Việc đa dạng hóa nguồn vốn, bao gồm cả vốn đầu tư mạo hiểm và nguồn kiều hối cho thấy TP. Hồ Chí Minh đang từng bước hình thành một cấu trúc tài chính nhiều tầng cho hoạt động thương mại hóa công nghệ. Trong tổng thể Đề án, đây là yếu tố bổ trợ quan trọng cho mô hình sandbox, góp phần gia tăng khả năng tiếp cận vốn và nâng cao hiệu quả đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.

*

* *

Trong bối cảnh khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường vẫn còn đáng kể, việc TP. Hồ Chí Minh chủ động triển khai cơ chế thí điểm chính sách trong thương mại hóa TSTT từ ngân sách nhà nước có thể được xem là một bước đi mang tính thử nghiệm nhưng cần thiết. Mô hình này không chỉ góp phần tháo gỡ các rào cản pháp lý truyền thống, mà còn tạo ra một không gian chính sách linh hoạt để kiểm nghiệm các cơ chế mới về giao quyền, tài chính và tổ chức trung gian trong điều kiện có kiểm soát.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng sandbox chỉ là giải pháp mang tính chuyển tiếp. Trong dài hạn, TP. Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung cần tiến tới xây dựng một hệ sinh thái ĐMST hoàn chỉnh, trong đó quyền sở hữu trí tuệ được xác lập rõ ràng, khai thác hiệu quả, các tổ chức trung gian hoạt động chuyên nghiệp và thị trường công nghệ phát triển đủ sâu để hấp thụ các kết quả nghiên cứu. Khi đó, thương mại hóa kết quả nghiên cứu không chỉ là mục tiêu của chính sách KH&CN, mà trở thành một động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế dựa trên tri thức tại Việt Nam./.

Nổi bật
    Mới nhất
    TP. Hồ Chí Minh thí điểm có kiểm soát chính sách thúc đẩy thương mại hóa công nghệ