TP. Hồ Chí Minh: Nghiên cứu giải pháp làm giàu rừng ngập mặn Cần Giờ
Trước nguy cơ suy giảm chất lượng rừng ngập mặn, việc kết hợp công nghệ viễn thám với các giải pháp lâm sinh, mở ra hướng tiếp cận hiệu quả nhằm nâng cao sinh khối và phục hồi cấu trúc rừng.
Nhận diện suy giảm chất lượng rừng từ dữ liệu viễn thám
Rừng ngập mặn Cần Giờ từ lâu được xem là “lá chắn xanh” của TP. Hồ Chí Minh (TP.HCM), đóng vai trò quan trọng trong việc chắn sóng, chắn gió, điều hòa khí hậu, giảm ô nhiễm môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Không chỉ có ý nghĩa sinh thái, hệ sinh thái rừng còn góp phần phát triển kinh tế ven biển, đặc biệt trong nuôi trồng, khai thác thủy sản và du lịch sinh thái, mang lại nguồn thu đáng kể cho người dân địa phương.
Tuy nhiên, rừng ngập mặn ven biển Cần Giờ đang đối mặt với nguy cơ suy giảm cả về diện tích lẫn chất lượng do nhiều nguyên nhân như điều kiện lập địa, cấu trúc mật độ và tầng tán chưa hợp lý, biện pháp kỹ thuật lâm sinh chưa phù hợp, cùng với tác động của sâu bệnh hại. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu, nước biển dâng và thời tiết cực đoan đang gây bất lợi đến sinh trưởng và phát triển của rừng, làm suy giảm chức năng phòng hộ.
Trước yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn, Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ đã triển khai đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật làm giàu rừng ngập mặn ven biển Cần Giờ thích ứng với biến đổi khí hậu”. Đề tài do Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM đặt hàng, tập trung đánh giá hiện trạng rừng nghèo kiệt và đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao sức chống chịu, tăng cường chức năng phòng hộ của hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Để đánh giá hiện trạng, nhóm nghiên cứu sử dụng ảnh vệ tinh kết hợp phân tích chỉ số thực vật (NDVI), nhằm xác định các khu vực rừng cần tác động. Trên cơ sở đó, rừng ngập mặn Cần Giờ được phân thành các nhóm gồm rừng giàu, trung bình, nghèo, nghèo kiệt và rừng phục hồi, với tổng diện tích 34.654,4 ha. Trong đó, rừng giàu và trung bình chiếm ưu thế với 31.69 ha (91,46%), tiếp đến là rừng nghèo 1.624 ha (4,69%) và rừng phục hồi 1.336,4 ha (3,86%).

Kết quả phân tích cho thấy cấu trúc tầng tán có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng tích lũy sinh khối và chất lượng rừng. Những khu vực có cấu trúc đa tầng với phân bố loài hợp lý thường có sinh khối cao và khả năng chống chịu tốt hơn.
Làm giàu rừng theo cấu trúc đa tầng sinh thái
Trên cơ sở đánh giá hiện trạng, nhóm nghiên cứu đã xây dựng các mô hình thí nghiệm nhằm áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp để nâng cao chất lượng rừng.
Các mô hình tập trung vào hai nhóm giải pháp chính: chăm sóc - nuôi dưỡng rừng hiện có và làm giàu rừng thông qua trồng bổ sung cây theo cấu trúc đa tầng tán. Việc thiết lập tầng cây cao và tầng cây dưới được xem là giải pháp quan trọng nhằm cải thiện cấu trúc rừng, tăng sinh khối và nâng cao khả năng chống chịu.
Theo TS. Hoàng Văn Thơi, Chủ nhiệm đề tài, mô hình trồng cây đa tầng tán không chỉ giúp gia tăng sinh khối mà còn tạo điều kiện cho các loài cây sinh trưởng ổn định, tận dụng hiệu quả nguồn ánh sáng và dinh dưỡng, qua đó nâng cao khả năng thích ứng của rừng trước các tác động bất lợi từ môi trường.
Song song đó, các biện pháp quản lý sâu bệnh hại cũng được chú trọng. Kết quả khảo sát ghi nhận 15 loài sâu bệnh hại (11 loài sâu và 4 loài bệnh) như sâu đục thân, mối hại rễ, bệnh cháy lá, với mức độ gây hại biến động theo điều kiện lập địa và cấp NDVI.
Ngoài ra, thành phần cây tái sinh trong rừng gồm 14 loài, cho thấy tiềm năng phục hồi tự nhiên của hệ sinh thái. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, cần có các biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm định hướng phát triển cấu trúc rừng theo hướng bền vững.
Các mô hình thí nghiệm được triển khai với sự phối hợp của Ban Quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ, đảm bảo tính thực tiễn và khả năng áp dụng.

Hoàn thiện quy trình kỹ thuật, hướng tới quản lý rừng bền vững
Từ kết quả nghiên cứu, nhóm thực hiện đã xây dựng Hướng dẫn kỹ thuật làm giàu chất lượng rừng tự nhiên nghèo và phục hồi trên các dạng lập địa chính tại Cần Giờ.
Hướng dẫn này có cơ sở khoa học và giá trị thực tiễn cao, có thể áp dụng trực tiếp trong công tác quản lý và phát triển rừng. Các giải pháp kỹ thuật góp phần cải thiện cấu trúc rừng, tăng sinh khối và nâng cao chức năng phòng hộ của hệ sinh thái.
Về mặt sinh thái, việc làm giàu rừng giúp tăng khả năng hấp thụ carbon, cải thiện đa dạng sinh học và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Về quản lý, việc ứng dụng công nghệ viễn thám và chỉ số NDVI giúp nâng cao hiệu quả giám sát, cho phép xác định nhanh các khu vực cần can thiệp và đánh giá hiệu quả theo thời gian.
Đặc biệt, cách tiếp cận “làm giàu rừng” đã chuyển từ trồng rừng đơn thuần sang quản lý hệ sinh thái tổng hợp, chú trọng đến cấu trúc, chức năng và khả năng phục hồi của rừng.
Có thể thấy, việc kết hợp giữa công nghệ hiện đại và các giải pháp lâm sinh đang mở ra hướng đi mới trong quản lý rừng ngập mặn. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần bảo vệ “lá chắn xanh” của TP.HCM, mà còn tạo cơ sở khoa học để nhân rộng tại các vùng ven biển có điều kiện tương tự./.
