TP.HCM: Tận dụng phụ phẩm thúc đẩy nông nghiệp tuần hoàn
Từ ấu trùng ruồi lính đen xử lý phụ phẩm hữu cơ đến rơm ủ vi sinh trong chăn nuôi bò, các mô hình nông nghiệp tuần hoàn tại TP. Hồ Chí Minh (TP.HCM) cho thấy tiềm năng nâng cao hiệu quả sản xuất, tận dụng tài nguyên sẵn có và giảm phát thải khí nhà kính.
Tại TP.HCM, phụ phẩm từ hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và chế biến nông sản vẫn là nguồn tài nguyên chưa được khai thác hiệu quả. Trong khi đó, lượng chất thải phát sinh lớn đặt ra yêu cầu tìm kiếm các giải pháp xử lý phù hợp, vừa giảm áp lực môi trường, vừa tạo thêm giá trị kinh tế cho người sản xuất.
Trước thực tế này, nhiệm vụ khoa học và công nghệ “Nghiên cứu xây dựng một số quy trình sản xuất nông nghiệp tuần hoàn, carbon thấp, giảm phát thải khí nhà kính tại TP.HCM” do TS. Lê Thụy Bình Phương làm chủ nhiệm, Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Khoa học Công nghệ, Trường Đại học Nông Lâm TP. HCM chủ trì thực hiện, đã nghiên cứu, triển khai hai hướng ứng dụng chính: sử dụng ấu trùng ruồi lính đen chuyển hóa phụ phẩm hữu cơ và tận dụng rơm ủ vi sinh trong chăn nuôi bò.
Các kết quả bước đầu cho thấy, nếu được xử lý và đưa trở lại chu trình sản xuất theo quy trình phù hợp, phụ phẩm nông nghiệp có thể trở thành nguồn đầu vào hữu ích, góp phần cải thiện hiệu quả kinh tế và giảm phát thải so với các phương thức sản xuất thông thường.
Tận dụng 70% phụ phẩm để nuôi ấu trùng ruồi lính đen
Khảo sát tại Củ Chi, Hóc Môn và Bình Chánh của nhóm nghiên cứu cho thấy, TP.HCM có nguồn phụ phẩm nông nghiệp và chất thải hữu cơ đáng kể. Lượng chất thải tại các chợ đầu mối được ghi nhận dao động từ 36 - 73 tấn/ngày, chất thải rắn từ các cơ sở giết mổ khoảng 242 tấn/ngày, trong khi chất thải từ hoạt động chăn nuôi dao động từ 114 - 801 tấn/ngày.
Đây vừa là áp lực đối với công tác quản lý môi trường, vừa là nguồn nguyên liệu tiềm năng nếu được phân loại, xử lý và tận dụng đúng cách. Từ kết quả khảo sát và phân tích thành phần dinh dưỡng, nhóm nghiên cứu xây dựng mô hình nuôi ấu trùng ruồi lính đen bằng các nguồn phụ phẩm như rau củ, trái cây loại thải, phân chuồng và chất thải phù hợp từ hoạt động sản xuất.
Trong mô hình này, ấu trùng ruồi lính đen đóng vai trò chuyển hóa sinh khối hữu cơ thành nguồn nguyên liệu giàu protein và lipid, có thể sử dụng làm thức ăn cho vật nuôi. Phần phân và giá thể sau quá trình nuôi được tận dụng làm phân bón, phục vụ trồng trọt, qua đó hình thành chu trình kết nối giữa xử lý chất thải, chăn nuôi và sản xuất cây trồng.
Kết quả thực nghiệm cho thấy, mô hình có thể sử dụng từ 60-70% phụ phẩm trong khẩu phần nuôi ấu trùng. Tỷ suất lợi nhuận trung bình đạt 57,92%; hiệu quả kinh tế được cải thiện 60,8% so với mô hình nuôi của các hộ dân hiện nay.
Đáng chú ý, mô hình giúp giảm 89,91% lượng phát thải carbon tương đương so với phương pháp xử lý bằng ủ compost. Kết quả này cho thấy tiềm năng của công nghệ ruồi lính đen trong việc giảm lượng phụ phẩm phải xử lý theo phương thức thông thường, đồng thời tạo ra nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất.
Nhiệm vụ đã triển khai ba mô hình thí điểm nuôi ấu trùng ruồi lính đen. Trong đó, các mô hình tại Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Khoa học Công nghệ, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM sử dụng phân gà hoặc phụ phẩm từ chợ đầu mối làm nguyên liệu; mô hình tại hộ ông Nguyễn Thành Phước, xã Tân An Hội, TP.HCM tận dụng phụ phẩm sau thu hoạch và thức ăn thừa trong gia đình.
Việc triển khai tại nhiều địa điểm, với nguồn nguyên liệu khác nhau, tạo cơ sở thực tiễn để tiếp tục đánh giá khả năng ứng dụng của mô hình.

Rơm ủ vi sinh giúp tăng hiệu quả chăn nuôi, giảm phát thải
Bên cạnh mô hình ruồi lính đen, nhóm nghiên cứu tập trung tận dụng rơm rạ sau thu hoạch làm thức ăn cho bò thông qua quy trình xử lý, lên men vi sinh. Đây là hướng tiếp cận có ý nghĩa đối với những địa bàn còn hoạt động trồng lúa và chăn nuôi bò, nơi phụ phẩm cây trồng có thể được đưa trở lại chu trình sản xuất thay vì bị bỏ phí hoặc xử lý chưa hiệu quả.
Nhóm nghiên cứu tiến hành so sánh rơm thô, rơm ủ kiềm và rơm ủ vi sinh để lựa chọn phương án phù hợp về năng suất, hiệu quả kinh tế và khả năng giảm phát thải. Kết quả cho thấy, quy trình sử dụng rơm ủ vi sinh có tiềm năng ứng dụng trong khẩu phần chăn nuôi bò.
Ở khẩu phần được lựa chọn, tỷ lệ nguyên liệu phụ phẩm đạt 95,8%, gồm 38% rơm ủ vi sinh, 38% bã nành và 19,8% bụi malt (bụi mịn, mạt vụn và vỏ hạt lúa mạch đã nảy mầm, sấy khô, phát sinh chủ yếu trong quá trình nghiền nguyên liệu sản xuất bia). So với mô hình chăn nuôi truyền thống tại địa phương, bò trong mô hình thí điểm có mức tăng trọng trung bình cao hơn, đạt 0,7 kg/ngày so với 0,56 kg/ngày. Hệ số chuyển hóa thức ăn giảm từ 11,07 xuống 9,85. Nhờ đó, mô hình giúp tăng hiệu quả kinh tế 14,31%, đồng thời giảm khoảng 54,2% lượng phát thải carbon tương đương so với phương thức chăn nuôi đối chứng. Những kết quả này cho thấy việc xử lý rơm bằng vi sinh, kết hợp xây dựng khẩu phần phù hợp, có thể giúp tận dụng tốt hơn nguồn phụ phẩm và cải thiện hiệu quả chăn nuôi.

Quy trình đã được triển khai tại ba hộ chăn nuôi ở Củ Chi. Bên cạnh việc tận dụng rơm sau thu hoạch, mô hình còn hướng đến tuần hoàn phân bò để bón đồng cỏ, góp phần bổ sung nguồn thức ăn cho vật nuôi và giảm lượng chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất.
Ngoài hai mô hình thực nghiệm, trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu, nhóm đã tổ chức tập huấn về nông nghiệp tuần hoàn và các giải pháp kỹ thuật xử lý, tận dụng phụ phẩm cho 65/78 cán bộ chuyên trách của Chi cục Chăn nuôi và Thú y TP.HCM, đạt tỷ lệ 83%, cùng các hộ nông dân. Nhóm nghiên cứu cũng hoàn thành dự thảo bộ tiêu chí và phương pháp đánh giá giảm phát thải carbon.
Từ những kết quả bước đầu, hai mô hình cho thấy tiềm năng mở rộng ứng dụng các giải pháp nông nghiệp tuần hoàn, góp phần tận dụng phụ phẩm làm nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm phát thải khí nhà kính. Đề tài đã được Sở KH&CN TP.HCM nghiệm thu, tạo cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện và chuyển giao các quy trình công nghệ, bộ tiêu chí vào thực tiễn.
Theo nhóm nghiên cứu, việc nhân rộng mô hình cần triển khai theo lộ trình phù hợp với điều kiện kinh tế, kỹ thuật và nhu cầu thực tế của từng địa phương, hướng tới phát triển các mô hình nông nghiệp tuần hoàn và nền nông nghiệp carbon thấp tại TP.HCM./.
