TP. Đồng Nai: Ứng dụng công nghệ
để gìn giữ di sản văn hoá dân tộc
Từ những thước phim tư liệu về lễ hội, nghề truyền thống đến việc số hóa hình ảnh, âm thanh và tri thức dân gian, TP. Đồng Nai đang từng bước ứng dụng công nghệ để lưu giữ, phát huy di sản văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Cách làm này góp phần bảo tồn những giá trị có nguy cơ mai một, đồng thời mở rộng cơ hội để thế hệ trẻ tiếp cận, tìm hiểu và tiếp nối bản sắc văn hóa dân tộc.
Số hóa di sản, lưu giữ ký ức văn hóa
TP. Đồng Nai là nơi sinh sống của nhiều cộng đồng DTTS như X’tiêng, Mạ, M’nông, Chơ Ro, Khmer… Mỗi cộng đồng có những giá trị văn hóa riêng được lưu truyền qua nhiều thế hệ, từ lễ hội, tiếng nói, dân ca đến nghề thủ công, nhạc cụ và tri thức dân gian.
Tuy nhiên, trước những thay đổi của đời sống hiện đại, việc lưu giữ và trao truyền các giá trị này đặt ra yêu cầu phải có những phương thức bảo tồn phù hợp.
Trong bối cảnh đó, công nghệ số đang mở thêm hướng đi cho công tác bảo tồn di sản văn hóa tại TP. Đồng Nai. Thay vì chỉ lưu giữ qua hiện vật, văn bản hoặc hoạt động trình diễn, những giá trị văn hóa còn có thể được ghi âm, ghi hình, số hóa và xây dựng thành nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu, giáo dục và quảng bá.
Nhiều năm qua, Đồng Nai đã thực hiện hàng chục phim tư liệu về lễ hội, nghề truyền thống và tri thức dân gian của các DTTS. Trong đó có lễ hội Lồng tồng của người Tày, Nùng; lễ hội Làm chay của người Hoa; nghề dệt thổ cẩm của người Mạ, X’tiêng. Các phim tư liệu được phát sóng trên kênh truyền hình Trung ương và nhiều địa phương, góp phần giới thiệu sinh động đời sống văn hóa của cộng đồng.
Đối với những di sản gắn với thực hành như đánh cồng chiêng, dệt thổ cẩm hay tổ chức lễ hội, việc ghi lại hình ảnh và âm thanh giúp lưu giữ các chi tiết về cách thức thực hiện, không gian văn hóa và sự tham gia của người dân. Đây cũng là nguồn tư liệu có thể phục vụ việc tìm hiểu, truyền dạy cho thế hệ sau.
Song song với di sản phi vật thể, công tác số hóa hiện vật, hồ sơ di tích và các bộ sưu tập văn hóa cũng được TP. Đồng Nai chú trọng. Bảo tàng Đồng Nai đã thực hiện số hóa 2D một số sách chuyên khảo, hồ sơ di tích; số hóa 3D các hiện vật thuộc bảo vật quốc gia và xây dựng cơ sở dữ liệu mở phục vụ nghiên cứu, khai thác. Những hoạt động này góp phần tạo nền tảng dữ liệu để lưu giữ và giới thiệu các giá trị lịch sử, văn hóa của địa phương.

Công nghệ số cũng được ứng dụng trong xây dựng các không gian trưng bày trực tuyến về văn hóa bản địa, trong đó có văn hóa người Mạ ở TP. Đồng Nai. Thông qua những hình thức giới thiệu mới, công chúng có thêm cơ hội tiếp cận di sản, mà không nhất thiết phải đến trực tiếp địa điểm lưu giữ hoặc trưng bày.
Đưa di sản đến với thế hệ trẻ bằng công nghệ
Một trong những ý nghĩa quan trọng của số hóa là mở rộng khả năng tiếp cận di sản, nhất là đối với thế hệ trẻ. Khi hình ảnh, âm thanh, phim tư liệu và dữ liệu văn hóa được lưu giữ có hệ thống, những giá trị vốn gắn với không gian sinh hoạt của cộng đồng, có thể được giới thiệu rộng rãi hơn, phục vụ học tập, nghiên cứu và hoạt động giáo dục truyền thống.
Tại TP. Đồng Nai, việc ứng dụng công nghệ trong bảo tồn di sản đang được triển khai song song với các hoạt động thực hành văn hóa tại cơ sở. Ở xã Trảng Bom, các kênh thông tin điện tử và trang mạng xã hội chính thống thường xuyên đăng tải hình ảnh, tin bài về di tích, danh thắng và lễ hội. Địa phương cũng triển khai công trình thanh niên số hóa thông tin địa chỉ đỏ, xây dựng dự án “Trạm ký ức”, nhằm lưu giữ và giới thiệu những câu chuyện lịch sử của quê hương.
Tại xã Thuận Lợi, các tư liệu di sản được số hóa, xây dựng thành video, hình ảnh và trưng bày trực tuyến phục vụ công tác quảng bá, bảo tồn lâu dài. Những mô hình này cho thấy công nghệ có thể hỗ trợ đưa thông tin di sản đến gần hơn với người dân, đồng thời tạo thêm nguồn tư liệu phục vụ giáo dục lịch sử, văn hóa tại địa phương.

Đối với văn hóa đồng bào DTTS, công nghệ được kết hợp với việc duy trì các không gian thực hành như câu lạc bộ cồng chiêng, lớp truyền dạy nghề thủ công, sinh hoạt dân ca và hoạt động tại nhà văn hóa cộng đồng. Tư liệu số giúp lưu giữ và lan tỏa, nhưng việc trực tiếp học hỏi nghệ nhân, tham gia nghi lễ và thực hành văn hóa mới là yếu tố quan trọng để di sản tiếp tục sống trong cộng đồng.
TP. Đồng Nai đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành số hóa 100% di sản văn hóa được xếp hạng quốc gia, quốc gia đặc biệt theo lộ trình của Trung ương. Mục tiêu này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện dữ liệu, tăng cường phối hợp giữa cơ quan chuyên môn và địa phương, đồng thời bảo đảm khả năng khai thác tư liệu phục vụ công tác bảo tồn lâu dài.
Đặc biệt, trong quá trình số hóa di sản của đồng bào DTTS, người dân và nghệ nhân cần được xác định là chủ thể nắm giữ, thực hành và trao truyền văn hóa. Việc ghi lại những bài hát, nghi lễ, câu chuyện dân gian hay kỹ thuật nghề truyền thống, cần có sự tham gia của cộng đồng, tôn trọng phong tục và bảo đảm những giá trị được giới thiệu đúng với ý nghĩa vốn có.
Công nghệ có thể giúp lưu giữ hình ảnh, âm thanh và dữ liệu trước nguy cơ thất truyền, nhưng không thể thay thế vai trò của con người trong bảo tồn văn hóa. Khi số hóa được kết hợp với truyền dạy, thực hành và sự tham gia chủ động của cộng đồng, di sản không chỉ được lưu lại trong kho dữ liệu mà còn có cơ hội tiếp tục hiện diện trong đời sống.
Từ những thước phim tư liệu về lễ hội, nghề truyền thống đến các cơ sở dữ liệu và không gian trưng bày trực tuyến, TP. Đồng Nai đang từng bước kết nối công nghệ với nhiệm vụ gìn giữ bản sắc văn hóa các dân tộc. Đây là hướng đi góp phần bảo vệ những giá trị quý báu của cộng đồng, để di sản được lưu giữ lâu dài, lan tỏa rộng rãi và tiếp tục được các thế hệ kế tiếp gìn giữ, phát huy./.
