Truyền thông

Thái Nguyên: Hạ tầng tạo động lực phát triển sản xuất cho vùng khó khăn

VVH 22/09/2026 11:52

Từ những tuyến kênh đưa nước đến đồng ruộng và đường nội đồng giúp phương tiện tiếp cận khu sản xuất, hạ tầng thiết yếu đang tháo gỡ từng điểm nghẽn của nông nghiệp miền núi Thái Nguyên. Thực tế tại Ngân Sơn, Nghĩa Tá và Chợ Đồn cho thấy hiệu quả đầu tư không chỉ nằm ở công trình được hoàn thành, mà còn phụ thuộc vào sự tham gia của người dân, khả năng vận hành, duy tu và việc gắn hạ tầng với sinh kế phù hợp từng địa bàn.

Thay đổi từ kênh mương và đường nội đồng ở Ngân Sơn

Ở vùng cao, khoảng cách từ thửa ruộng đến đường vận chuyển hoặc từ nguồn nước đến khu canh tác có thể quyết định khả năng tổ chức sản xuất. Khi kênh mương chưa hoàn chỉnh, nước tưới phụ thuộc nhiều vào thời tiết; khi đường nội đồng nhỏ, gồ ghề, người dân phải tăng công vận chuyển vật tư và nông sản. Bởi vậy, những công trình không lớn về quy mô nhưng đi đúng nhu cầu thường tạo ra thay đổi dễ nhận thấy trong từng vụ sản xuất.

Thôn Bản Tặc, xã Ngân Sơn là một trường hợp như vậy. Đại diện UBND xã Ngân Sơn cho biết, cánh đồng của thôn có diện tích gần 36 ha. Trước khi một số tuyến kênh mương và đường nội đồng được đầu tư, việc cấp nước có thời điểm chưa ổn định, vận chuyển nông sản cũng gặp khó khăn. Sau khi công trình kênh mương và đường nội đồng được đưa vào sử dụng, nước đến ruộng thuận lợi hơn, phương tiện có thể tiếp cận gần khu sản xuất, qua đó giảm sức người trong khâu thăm đồng, đưa vật tư vào ruộng và chuyển nông sản về nhà.

Bà Nguyễn Thị Hiến, người dân Bản Tặc cho biết, kênh mương đã giúp việc canh tác bớt phụ thuộc vào nỗi lo thiếu nước. Đường nội đồng cũng làm thay đổi cách thu hoạch và vận chuyển, nhất là với cây thuốc lá - loại nông sản dễ bị dập, hư hỏng nếu phải vận chuyển trên đường xấu. Theo chị Triệu Thị Hường (thôn Bản Tặc), dòng nước ra đồng đã đều và thuận tiện hơn, song người dân vẫn mong có thêm các tuyến đường để kết nối những khu ruộng khó tiếp cận. Theo bà Trần Thị Thảo, Trưởng thôn Bản Tặc, thôn có 86 hộ, trong đó có 7 hộ nghèo. Người dân đã tham gia hiến đất cho công trình, có hộ hiến khoảng 700 m² đất ruộng. Đường vào khu sản xuất thuận lợi hơn cũng tạo điều kiện để một số hộ đưa máy móc xuống đồng. Những ý kiến này phản ánh khá rõ hai tác dụng trực tiếp của hạ tầng sản xuất: bảo đảm đầu vào thiết yếu là nước và rút ngắn khâu vận chuyển.

Đại diện Phòng Kinh tế xã Ngân Sơn cho biết, trong năm 2025 địa bàn được đầu tư trên 10 công trình kênh mương nội đồng và giao thông. Một số công trình bị ảnh hưởng bởi bão lũ đã được kiểm tra, đề xuất phương án khắc phục trong năm 2026. Xã đồng thời rà soát những tuyến kênh, đường nội đồng chưa được kiên cố hóa để đưa vào danh mục đầu tư công giai đoạn 2026-2030. Điều này cho thấy xây dựng mới chỉ là một phần của bài toán; khả năng chống chịu thiên tai, sửa chữa kịp thời và duy trì công năng mới quyết định hiệu quả lâu dài.

Sự đồng thuận "mở đường" cho công trình

Nếu vốn đầu tư tạo nên phần hữu hình của công trình thì sự đồng thuận của cộng đồng lại quyết định mặt bằng, tiến độ và khả năng sử dụng sau đầu tư. Tại Bản Tặc, việc vận động hiến đất không phải lúc nào cũng thuận lợi. Có khu vực người dân đã thống nhất chủ trương nhưng tuyến đường chưa thể triển khai vì còn vướng mặt bằng của một hộ.

Câu chuyện tại thôn Bản Bẳng, xã Nghĩa Tá cho thấy một góc nhìn đáng chú ý. Đây là thôn miền núi đặc biệt khó khăn, hơn 90% dân số là đồng bào Dao và trên 50% số hộ thuộc diện nghèo, cận nghèo [1]. Trong năm 2025, thôn có hai công trình đường nông thôn mới; một công trình dài hơn 200 m đã được Ban Phát triển thôn bản thực hiện xong. Ông Chu Văn Sơn - một hộ dân tại tại thôn Bản Bẳng đã hiến hơn 400 m² đất (dù quỹ đất canh tác của gia đình không nhiều) [1].

9-VVH-Thai Nguyen ha tang nong thon
Đoạn đường tại thôn Bản Bẳng được gia đình ông Chu Văn Sơn hiến đất để xây dựng.

Ở phạm vi toàn xã Nghĩa Tá, gần 30.000 m² đất đã được người dân hiến để phục vụ các chương trình mục tiêu quốc gia và phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi [1]. Việc người dân góp đất và ngày công giúp tạo mặt bằng cho đường, kênh, mương; nhưng sự tham gia ấy chỉ bền vững khi quá trình vận động minh bạch, tự nguyện và công trình thực sự đáp ứng nhu cầu cộng đồng.

Từ Ngân Sơn đến Nghĩa Tá, một kinh nghiệm chung có thể nhận thấy là phải để người dân tham gia từ khâu xác định công trình ưu tiên. Tuyến đường đi qua khu sản xuất tập trung, đoạn mương giải quyết vùng thường xuyên thiếu nước, hay điểm cống gây ngập cần được lựa chọn trên cơ sở nhu cầu thực tế. Khi người dân thấy rõ lợi ích, sự đóng góp không chỉ là hỗ trợ giải phóng mặt bằng mà còn có trách nhiệm bảo vệ công trình sau bàn giao.

Đầu tư theo cụm hạ tầng để hỗ trợ sinh kế

Kinh nghiệm tại xã Chợ Đồn cho thấy, hiệu quả có thể rõ hơn khi đường giao thông, thủy lợi và các hạng mục phòng, chống thiên tai được triển khai đồng thời. Xã Chợ Đồn được thành lập từ tháng 7/2025 trên cơ sở hợp nhất các xã Phương Viên, Bằng Lãng, Ngọc Phái và thị trấn Bằng Lũng; diện tích hơn 142 km², dân số trên 16.000 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 88% [2]. Địa bàn rộng và dân cư phân tán khiến chi phí kết nối sản xuất trở thành vấn đề đáng lưu ý.

Năm 2025, tổng nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tại xã đạt hơn 15 tỷ đồng; riêng Dự án 4 về đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu được bố trí gần 12 tỷ đồng. Từ nguồn lực này, địa phương triển khai 22 công trình gồm đường giao thông nông thôn, kênh mương nội đồng, đập, kè chống sạt lở và nhà văn hóa thôn [2].

Tuyến đường nội đồng Nà Khắt - Nà Mồ có tổng mức đầu tư gần 700 triệu đồng, hoàn thành tháng 7/2025. Theo phản ánh của người dân, xe có thể vào tận ruộng để chở lúa thay cho việc huy động nhiều người gánh qua đường đất nhỏ, lồi lõm như trước. Cùng với tuyến đường này, xã đã triển khai kiên cố hóa kênh mương cánh đồng Nà Khoang - Nà Pế; hệ thống đập và kênh mương nội đồng tại Bản Duồng, Bản Nhì, Nà Niếng; kè chống xói lở Nà Đán ở thôn Tủm Tó [2].

Kinh nghiệm của xã Chợ Đồn cho thấy, các hạng mục trên phục vụ những nhu cầu tổng hợp: đường giảm công vận chuyển; kênh mương hỗ trợ tưới tiêu; đập và kè góp phần bảo vệ đất, nhà cửa và công trình trong điều kiện địa hình miền núi.

Yêu cầu cho giai đoạn mới

Những công trình đã hoàn thành không đồng nghĩa với nhu cầu đầu tư đã được giải quyết. Tại cuộc tiếp xúc cử tri ở xã Định Hóa ngày 29/6/2026, cử tri tiếp tục đề nghị nâng cấp giao thông nông thôn, hoàn thiện kênh mương nội đồng và mương thoát nước, đồng bộ cống qua đường để hạn chế ngập úng; đồng thời khắc phục điểm sạt lở, đất tràn xuống mặt đường sau mưa bão [3]. Ở cấp tỉnh, ngày 30/7/2026, UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành Quyết định số 104/2026/QĐ-UBND, quy định áp dụng các nội dung tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030; đồng thời ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới hiện đại và Bộ tiêu chí thôn nông thôn mới của tỉnh trong cùng giai đoạn. Quyết định có hiệu lực từ ngày ký, áp dụng đối với các sở, ngành, UBND cấp xã, các thôn, xóm, bản và cơ quan, tổ chức có liên quan [4]. Đây là căn cứ để các địa phương rà soát hạ tầng theo chuẩn mới, nhưng việc lựa chọn dự án cụ thể vẫn cần dựa trên hiện trạng, nguồn lực và thứ tự ưu tiên của từng nơi.

Trước hết, đầu tư cần chuyển từ tư duy hoàn thành từng hạng mục sang bảo đảm một chuỗi phục vụ sản xuất. Một tuyến mương chỉ phát huy đầy đủ công năng khi có nguồn nước phù hợp, cửa lấy nước và đoạn dẫn được duy trì; đường nội đồng chỉ tạo thuận lợi rõ rệt khi kết nối với khu canh tác, điểm tập kết và tuyến giao thông chính. Việc lập danh mục đầu tư vì thế cần xem xét đồng thời thủy lợi, giao thông, thoát nước và phòng, chống sạt lở.

Cùng với đó, công tác duy tu phải được tính ngay từ khi chuẩn bị dự án. Địa hình dốc, mưa lớn và nguy cơ sạt lở có thể làm hư hỏng công trình, như trường hợp một số hạng mục tại Ngân Sơn bị ảnh hưởng bởi bão lũ trong năm 2025. Cần phân định rõ đơn vị quản lý, lịch kiểm tra trước và sau mùa mưa, nguồn kinh phí sửa chữa nhỏ, trách nhiệm phát hiện và báo cáo sự cố. Cộng đồng có thể tham gia giám sát, khơi thông và bảo vệ hành lang công trình, nhưng các phần việc kỹ thuật và an toàn phải do cơ quan có chuyên môn thực hiện.

Một yêu cầu khác là gắn đầu tư hạ tầng với tổ chức sản xuất. Có nước và đường là điều kiện cần để mở rộng cơ giới hóa, giảm tổn thất vận chuyển và bố trí mùa vụ chủ động hơn; để chuyển thành thu nhập, người dân còn cần giống, kỹ thuật, liên kết tiêu thụ và thông tin thị trường. Do đó, các chương trình hỗ trợ sinh kế nên được phối hợp với tiến độ hoàn thành công trình, tránh tình trạng hạ tầng có trước nhưng sản xuất chậm chuyển đổi hoặc mô hình sản xuất không phù hợp điều kiện đất, nước tại chỗ.

Cuối cùng, hiệu quả cần được đo bằng kết quả sử dụng chứ không chỉ bằng số lượng công trình. Bên cạnh hồ sơ nghiệm thu, nên công khai các chỉ báo đơn giản như diện tích và số hộ hưởng lợi, số vụ được bảo đảm nước, mức độ tiếp cận của máy móc, thời gian vận chuyển, số lần công trình phải sửa chữa và phản hồi của người dân. Dữ liệu theo dõi qua nhiều vụ sản xuất sẽ giúp phân biệt tác động của hạ tầng với các yếu tố khác như giá nông sản, thời tiết, kỹ thuật và vốn của hộ.

Thực tiễn ở Ngân Sơn, Nghĩa Tá và Chợ Đồn cho thấy hạ tầng nông thôn có thể tháo gỡ những trở ngại rất cụ thể của vùng khó khăn: nước chưa đến đều, đường chưa tới ruộng, mặt bằng khó thống nhất và công trình dễ tổn thương trước thiên tai. Khi lựa chọn đúng nhu cầu, huy động người dân trên cơ sở tự nguyện, tổ chức duy tu rõ ràng và gắn công trình với sinh kế, mỗi tuyến mương, con đường có thể trở thành nền tảng để sản xuất ổn định hơn. Đó là cách tiếp cận thận trọng nhưng thực chất để nguồn lực đầu tư công tạo giá trị lâu dài cho các cộng đồng miền núi Thái Nguyên./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Cổng thông tin điện tử Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (2025), “Người dân bản Dao ở một xã phía Bắc tỉnh Thái Nguyên đồng lòng hiến đất xây dựng nông thôn mới”, https://nongthonmoi.gov.vn/Pages/nguoi-dan-ban-dao-o-mot-xa-phia-bac-tinh-thai-nguyen-dong-long-hien-dat-xay-dung-nong-thon--.aspx, truy cập ngày 16/9/2026.

[2] Thu Hà (2025), “Hạ tầng đổi thay từ Chương trình 1719 ở xã Chợ Đồn”, https://baothainguyen.vn/xa-hoi/202512/ha-tang-doi-thay-tu-chuong-trinh-1719-o-xa-cho-don-20411df, truy cập ngày 16/9/2026.

[3] Cổng thông tin điện tử xã Định Hóa (2026), “Đại biểu HĐND tỉnh Thái Nguyên khóa XV và đại biểu HĐND xã Định Hóa khóa II đã tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thường lệ giữa năm 2026”, https://dinhhoa.thainguyen.gov.vn/hoat-dong-cua-hdnd-xa-dinh-hoa-khoa-ii-nhiem-ky-2026-2031/dai-bieu-hdnd-tinh-thai-nguyen-khoa-xv-va-dai-bieu-hdnd-xa-dinh-hoa-khoa-ii-da-tiep-xuc-cu-tri-truoc-ky-hop-thuong-le-giua-nam-2026-276239, truy cập ngày 16/9/2026.

[4] UBND tỉnh Thái Nguyên (2026), Quyết định số 104/2026/QĐ-UBND ngày 30/7/2026 về áp dụng các nội dung tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và ban hành các bộ tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh, https://congbao.thainguyen.gov.vn/?p_gazette=12898&pageid=63227, truy cập ngày 16/9/2026.

Nổi bật
    Mới nhất
    Thái Nguyên: Hạ tầng tạo động lực phát triển sản xuất cho vùng khó khăn