Ý kiến chuyên gia

Sáp nhập đại học phải tạo ra năng lực mới

Vũ Hưng (thực hiện) 21/09/2026 12:56

Sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục đại học chỉ có ý nghĩa khi chất lượng đào tạo, nghiên cứu và quản trị được nâng lên. Trao đổi với Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội nhấn mạnh, mỗi phương án sáp nhập cần bắt đầu từ sứ mạng phát triển, đồng thời bảo đảm quyền lợi của người học và tạo môi trường để đội ngũ giảng viên giỏi phát huy năng lực.

Phóng viên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam (PV) đã có buổi trao đổi với GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội về chủ đề sáp nhập các trường đại học.

PV: Thưa Giáo sư, khi sáp nhập các trường đại học thì định hướng, mục tiêu quan trọng nhất nhất là gì?

GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức: Mục tiêu cuối cùng phải là nâng cao chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, hiệu quả sử dụng nguồn lực, cũng như sức cạnh tranh của đại học Việt Nam. Nếu chỉ coi sáp nhập là biện pháp giảm đầu mối hành chính thì mới xử lý được hình thức tổ chức, chưa giải quyết phần cốt lõi.

Nguồn lực của hệ thống hiện còn phân tán. Một số cơ sở có quy mô nhỏ, ngành đào tạo trùng nhau; phòng thí nghiệm và đội ngũ nghiên cứu chưa được kết nối, trong khi nhiều bài toán khoa học và công nghệ ngày càng mang tính liên ngành, cần nguồn đầu tư lớn. Việc tổ chức lại mạng lưới vì thế phải giúp hình thành những cơ sở có năng lực học thuật và quản trị đủ mạnh, có thể xây dựng chương trình liên ngành, phòng thí nghiệm dùng chung, nhóm nghiên cứu mạnh và trung tâm đổi mới sáng tạo.

Theo tôi, một đề án chỉ nên được xem là thuyết phục khi chứng minh được bốn kết quả: chất lượng đào tạo và nghiên cứu được cải thiện; nguồn lực được tập trung và sử dụng hiệu quả; bộ máy ra quyết định nhanh, rõ trách nhiệm; các đơn vị có thể hình thành văn hóa chung. Số đầu mối giảm là một chỉ dấu, nhưng không thể thay thế thước đo về chất lượng và hiệu quả.

PV: Theo Giáo sư, kinh nghiệm quốc tế gợi mở điều gì cho Việt Nam trong lựa chọn mô hình tổ chức sau sáp nhập?

GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức: Không có một khuôn mẫu phù hợp cho tất cả. Theo tôi, bài học đáng chú ý là các trường phải xác định mục tiêu chiến lược trước khi xây dựng lại cơ cấu. Thành công phụ thuộc vào kế hoạch triển khai, sự đồng thuận, khả năng tập trung nguồn lực và tính nhất quán của chính sách, chứ không nằm ở số lượng cơ sở được gộp lại.

Trường hợp Đại học Aalto ở Phần Lan cho thấy giá trị của việc kết nối những thế mạnh khác nhau. Ba nhân tố về công nghệ, kinh tế và nghệ thuật - thiết kế được hợp nhất để tạo một môi trường đổi mới sáng tạo liên ngành. Điểm quyết định là tầm nhìn, cơ chế quản trị và không gian học thuật mới, chứ không phải ghép nguyên trạng các bộ máy cũ.

Việt Nam cần phân loại các trường trước khi lựa chọn phương án. Những cơ sở nhỏ, cùng địa bàn, có ngành nghề trùng lặp và năng lực hạn chế có thể cân nhắc hợp nhất sâu. Với các trường đã có thương hiệu và thế mạnh rõ rệt, mô hình đại học đa lĩnh vực hoặc hệ thống đại học có thể phù hợp hơn. Cấp đại học thống nhất chiến lược, dữ liệu, chuẩn chất lượng và dịch vụ chung; các trường, khoa, viện vẫn được chủ động về chuyên môn.

Điều cần là sáp nhập nhưng phải đủ tập trung để tạo sức mạnh; hoạt động học thuật cần được phân quyền để duy trì sáng tạo.

PV: Vậy, theo Giáo sư, cần làm thế nào để việc hợp nhất không dừng ở một tên gọi và một sơ đồ tổ chức mới?

GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức: Thay đổi pháp nhân là phần nhìn thấy ngay, còn việc tích hợp chiến lược, quản trị, dữ liệu, tài chính, nhân sự và văn hóa khó hơn nhiều. Nếu các đơn vị vẫn giữ nguyên ranh giới về chương trình, nghiên cứu và nguồn lực, tổ chức mới chỉ lớn hơn về danh nghĩa.

Vì vậy, cùng với phương án sáp nhập phải có kế hoạch phát triển cho giai đoạn tiếp theo. Kế hoạch ấy cần xác định cơ sở mới muốn đạt vị thế nào trong 5 - 10 năm; lĩnh vực nào được ưu tiên; ngành nào cần tích hợp hoặc tiếp tục duy trì; hạ tầng nào được dùng chung; cơ chế tuyển dụng và đãi ngộ ra sao; dữ liệu, tài chính và bảo đảm chất lượng sẽ được thống nhất thế nào. Mô hình quản trị nào được áp dụng. Quan trọng hơn, phải có chỉ số đầu ra để kiểm chứng tổ chức mới có tốt hơn trước hay không.

Phong van GS Nguyen Dinh Duc ve sap nhap 1-Chen anh
GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức: Không nên mặc định sáp nhập sẽ tiết kiệm ngay.

Cũng không nên mặc định sáp nhập sẽ tiết kiệm ngay. Những năm đầu có thể phát sinh chi phí cho tích hợp hệ thống, chuẩn hóa dữ liệu, tái cấu trúc chương trình, đầu tư hạ tầng và xây dựng văn hóa chung. Nếu chỉ giao yêu cầu hợp nhất mà không bố trí nguồn lực chuyển đổi, rất khó tạo ra năng lực mới mà từng trường riêng lẻ chưa có.

PV: Thương hiệu, bản sắc của từng trường, các ngành đặc thù và nhóm nghiên cứu mạnh cần được xử lý ra sao trong quá trình sáp nhập thưa Giáo sư?

GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức: Thương hiệu và bản sắc đã được khẳng định là tài sản vô hình của tổ chức. Sáp nhập hiệu quả không đòi hỏi xóa mọi khác biệt, mà cần đặt các thế mạnh vào một cấu trúc có thể hỗ trợ lẫn nhau. Nhiều đại học mạnh vẫn gồm các trường thành viên, khoa, viện và phòng thí nghiệm có lịch sử riêng, nhưng cùng theo đuổi một chiến lược chung.

Theo tôi, cần tách rõ hai cấp quản trị: ở cấp đại học, các bên thống nhất định hướng phát triển, chuẩn chất lượng, tài chính, dữ liệu, thương hiệu tổng thể và nền tảng dùng chung; ở cấp học thuật, trường, khoa và viện cần có đủ quyền để xây dựng chương trình, tổ chức nghiên cứu, hợp tác quốc tế và phát triển đội ngũ.

Những nhóm nghiên cứu có thành tích tốt và những phòng thí nghiệm có năng lực cạnh tranh quốc tế phải được nhận diện để tiếp tục đầu tư, tiến tới hình thành các trung tâm xuất sắc. Một số ngành khoa học cơ bản hoặc công nghệ nền tảng có quy mô người học không lớn nhưng mang ý nghĩa chiến lược thì phải duy trì - không thể chỉ đánh giá bằng tuyển sinh hoặc khả năng cân đối tài chính. Phần trùng lặp, hiệu quả thấp cần tái cấu trúc, còn những thế mạnh đã hình thành phải có cơ hội cộng hưởng và phát triển tốt hơn sau sáp nhập.

PV: Câu chuyện tự chủ đại học luôn là chủ đề mang tính thời sự và có nhiều quan điểm, thậm chí trái chiều. Vậy tự chủ đại học và chính sách đối với đội ngũ có vai trò thế nào trong quá trình sáp nhập các trường đại học thưa Giáo sư?

GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức: Một tổ chức lớn nhưng quyền quyết định bị chia nhỏ, thủ tục qua nhiều tầng sẽ vận hành chậm và làm tăng chi phí phối hợp. Do đó, sáp nhập phải gắn với tự chủ đồng bộ về học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản và đầu tư. Nhà nước đặt chuẩn chất lượng, giới hạn trách nhiệm và cơ chế kiểm tra; cơ sở giáo dục cần được chủ động tuyển dụng, đãi ngộ nhân tài, tổ chức bộ máy, sử dụng nguồn lực, đầu tư nghiên cứu và mở rộng hợp tác. Hệ thống quản trị sau sáp nhập phải thống nhất, minh bạch, số hóa và phân quyền rõ cho các đơn vị học thuật.

Đội ngũ là tài sản quan trọng nhất của đại học. Công tác nhân sự vì vậy phải được chuẩn bị từ sớm, công khai và dựa trên năng lực. Không nên chia vị trí theo tỷ lệ giữa các bên, mà cần căn cứ vào vị trí việc làm, thành tích, đóng góp học thuật, năng lực lãnh đạo và yêu cầu của chiến lược phát triển mới.

Trong thời gian chuyển đổi, phải giữ ổn định môi trường học thuật, duy trì các nhóm nghiên cứu mạnh và mở rộng cơ hội tiếp cận phòng thí nghiệm, dữ liệu, quỹ nghiên cứu và mạng lưới hợp tác. Tinh gọn đầu mối hành chính không đồng nghĩa với làm suy giảm lực lượng giảng viên, nhà khoa học. Một phương án tốt phải khiến người có năng lực nhìn thấy cơ hội nghề nghiệp rộng hơn và điều kiện nghiên cứu tốt hơn, thay vì thêm thủ tục.

PV: Quyền lợi của sinh viên cần được bảo đảm thế nào trong quá trình sáp nhập các trường đại học thưa Giáo sư?

GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức: Người học không thể phải gánh chi phí của việc thay đổi tổ chức. Mỗi đề án cần kèm kế hoạch chuyển tiếp được công bố sớm, quy định rõ về chương trình, chuẩn đầu ra, học phí, học bổng, tín chỉ, văn bằng, địa điểm học, ký túc xá và dịch vụ hỗ trợ. Các cam kết đối với khóa đang học phải được tôn trọng; nếu điều chỉnh, quyền lợi của sinh viên không được thấp hơn trước.

Phong van GS Nguyen Dinh Duc ve sap nhap 2
Sinh viên dự lễ khai giảng năm học mới tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Nguồn: VNU-Media).

Nhà trường cần có đầu mối giải đáp, hệ thống hỏi - đáp công khai và kênh tiếp nhận phản hồi. Thông tin về tên văn bằng, giá trị pháp lý và cách xác nhận theo từng khóa phải rõ ràng. Đồng thời, cơ sở giáo dục nên chủ động trao đổi với doanh nghiệp, đối tác tuyển dụng và tổ chức quốc tế để việc nhận diện văn bằng không bị gián đoạn. Kết quả tốt nhất là sinh viên được tiếp cận thêm môn học, phòng thí nghiệm, giảng viên và cơ hội nghiên cứu, trao đổi quốc tế.

Trong 5 - 10 năm tới, tôi kỳ vọng mạng lưới đại học bớt phân tán và mỗi cơ sở có sứ mạng rõ hơn. Hệ thống cần có đại học nghiên cứu dẫn dắt khoa học và công nghệ, đại học ứng dụng gắn với doanh nghiệp, đại học vùng làm hạt nhân tri thức của địa phương và một số cơ sở có năng lực cạnh tranh quốc tế. Nguồn lực nên được dành cho các trung tâm xuất sắc, hạ tầng nghiên cứu dùng chung và dữ liệu liên thông.

Thứ hạng quốc tế có thể được cải thiện khi tái cấu trúc tốt, nhưng đó nên là kết quả, không phải đích đến duy nhất. Thành công phải được nhìn qua chất lượng nhân lực, công trình có ảnh hưởng, sáng chế và công nghệ được chuyển giao, doanh nghiệp khởi nguồn từ đại học, khả năng thu hút nhân tài và đóng góp của đại học cho năng lực cạnh tranh quốc gia. Các trường vì thế nên bắt đầu từ sứ mạng và chiến lược, rồi mới thiết kế bộ máy. Sáp nhập chỉ thực sự thành công khi tạo ra một đại học tốt hơn và năng lực học thuật thực sự mạnh hơn.

PV : Trân trọng cảm ơn Giáo sư về cuộc trao đổi này!

Nổi bật
    Mới nhất
    Sáp nhập đại học phải tạo ra năng lực mới