Sở hữu trí tuệ

Quản trị tài sản trí tuệ: Từ bảo hộ quyền đến tạo giá trị cho công nghiệp văn hóa và sáng tạo

VH 22/08/2026 19:22

Khi công nghiệp văn hóa và sáng tạo ngày càng dựa trên tri thức, công nghệ và các nền tảng số, tài sản trí tuệ không chỉ cần được bảo hộ mà phải được nhận diện, định giá, khai thác và thương mại hóa. Điều này đặt ra yêu cầu xây dựng một khung chính sách liên ngành và hệ sinh thái quản trị tài sản trí tuệ đủ khả năng kết nối người sáng tạo, doanh nghiệp, thị trường, tổ chức trung gian và Nhà nước.

Ngày 22/8/2026, trong khuôn khổ triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN, ĐMST và CĐS) trọng điểm cấp cơ sở “Khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ thuộc các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo tại Việt Nam” (CSTĐ.2026.02), Trường Đại học (ĐH) Khoa học Xã hội và Nhân văn (USSH) thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội tổ chức tọa đàm khoa học “Định hướng nội dung khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ thuộc các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo tại Việt Nam”.

Tọa đàm tập trung vào một vấn đề có ý nghĩa ngày càng lớn đối với sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo: làm thế nào để tài sản trí tuệ không chỉ dừng lại ở việc xác lập và bảo hộ quyền, mà thực sự trở thành nguồn lực có khả năng tạo giá trị kinh tế và tiếp tục nuôi dưỡng hoạt động sáng tạo.

Các tham luận đề cập nhiều mắt xích của quá trình này, từ thực trạng quản trị tài sản trí tuệ của chủ thể sáng tạo, định giá và thương mại hóa, kinh nghiệm của của các nước trên thế giới đến xây dựng hệ sinh thái quản trị tài sản trí tuệ tại Việt Nam.

USSH_Tai san tri tue (1)
Các đại biểu tham dự Tọa đàm.

Khoảng cách từ “có quyền” đến “quản trị được quyền”

Theo định hướng của nhiệm vụ nghiên cứu, khung chính sách cần được xây dựng trên 3 lớp nội dung: phát triển cơ sở lý luận; đánh giá thực trạng, nhận diện rào cản và điểm nghẽn; từ đó thiết kế chính sách về quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, nguồn lực, lộ trình và phạm vi. Logic xuyên suốt được xác định là chuyển từ quản lý → quản trị → khai thác → tạo giá trị.

Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận này mở rộng vấn đề sở hữu trí tuệ (SHTT) ra ngoài phạm vi bảo hộ quyền theo nghĩa truyền thống. Trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa và sáng tạo, một tác phẩm, bản ghi, thiết kế, nhãn hiệu, phần mềm hay các tài sản sáng tạo khác chỉ có thể phát huy đầy đủ giá trị khi quyền được nhận diện, xác lập, định giá, cấp phép, khai thác và đưa vào giao dịch.

Báo cáo đề dẫn của PGS. TS. Nguyễn Mạnh Dũng, Chủ nhiệm nhiệm vụ thuộc USSH chỉ ra rằng, hệ thống hiện nay còn mang tính phân mảnh giữa các lĩnh vực di sản, điện ảnh, xuất bản, quảng cáo, sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp và chuyển đổi số. Trong khi đó, chuỗi giá trị cần được kết nối từ sáng tạo đến hình thành tài sản trí tuệ, định giá, cấp phép/chuyển giao, thương mại hóa, phân phối lợi ích và tái đầu tư cho sáng tạo.

USSH_Tai san tri tue (11)
PGS.TS. Nguyễn Mạnh Dũng trình bày Báo cáo đề dẫn tại Tọa đàm.

Một biểu hiện cụ thể là khoảng trống trong chuyển hóa nguồn lực văn hóa, di sản thành tài sản có khả năng khai thác. Báo cáo đề dẫn nhận diện một số vấn đề như thiếu cơ chế thống nhất để xác định yếu tố nào của di sản có thể trở thành tài sản trí tuệ và thuộc về ai; thiếu quy trình chuyển hóa từ giá trị di sản thành tài sản trí tuệ và sản phẩm sáng tạo; thiếu cơ chế định giá, cấp phép, chuyển giao cũng như chia sẻ lợi ích với cộng đồng.

Như vậy, vấn đề không đơn thuần là “có quyền hay không”, mà còn là quyền đó được quản trị như thế nào để tạo ra giá trị và giá trị được phân phối ra sao.

Chủ thể sáng tạo vẫn gặp nhiều rào cản

Kết quả khảo sát sơ bộ do TS. Lê Tùng Sơn trình bày cung cấp thêm góc nhìn từ thực tiễn. Nghiên cứu thực hiện 30 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc, thuộc 5 nhóm vai trò và trên 6 địa bàn; sử dụng phương pháp phân tích chủ đề và đối chiếu giữa các trường hợp.

Một trong những phát hiện đáng chú ý là khoảng cách giữa việc biết đến thuật ngữ sở hữu trí tuệ và khả năng xác định cụ thể mình đang nắm giữ quyền gì. Một số người được phỏng vấn có thể tự đánh giá tương đối tích cực về mức độ hiểu biết, nhưng lại gặp khó khăn khi xử lý tình huống cụ thể, chẳng hạn kiểm soát cơ sở tính tiền bản quyền trong hợp đồng hoặc xác định nơi cần tìm kiếm hỗ trợ khi quyền bị xâm phạm.

Khoảng trống thể hiện rõ hơn ở quyền của người biểu diễn. Khảo sát ghi nhận trường hợp người biểu diễn nhận biết nghĩa vụ xin phép tác giả nhưng lại chưa nhận thức đầy đủ quyền của chính mình; chưa phân định rõ tư cách người biểu diễn với chủ sở hữu bản ghi. Hệ quả có thể là người sáng tạo hoặc biểu diễn chỉ nhận thù lao một lần, trong khi giá trị kinh tế phát sinh về sau thuộc về bên khai thác.

Sự phát triển của nền tảng số tiếp tục làm bài toán phức tạp hơn. Kết quả khảo sát cho thấy trong một số trường hợp, hành vi của chủ thể sáng tạo chịu tác động trực tiếp bởi cơ chế phát hiện và xử lý của nền tảng. Nội dung có thể bị tự động đánh dấu, hạn chế phân phối; ngược lại, khi chủ thể cần bảo vệ quyền thì quy trình khiếu nại lại có thể chưa đáp ứng kỳ vọng.

Trí tuệ nhân tạo (AI) cũng tạo ra những tình huống mới. Báo cáo khảo sát ghi nhận AI có thể rút ngắn quá trình hình thành ý tưởng nhưng đồng thời tác động đến một số phân khúc thị trường sáng tạo; công nghệ cũng có thể được sử dụng để biến đổi nội dung nhằm tránh cơ chế nhận diện bản quyền. TS. Lê Tùng Sơn dẫn chứng một số quán cà phê mở nhạc AI nhằm “lách luật” để không phải chi trả phí bản quyền.

Từ các trường hợp nghiên cứu, nhóm thực hiện cho rằng điểm nghẽn cần được nhìn nhận trên ba lớp nguyên nhân nối tiếp: nhận thức, thiết chế trung gian và chi phí thực thi; trong đó nghệ sĩ độc lập và người biểu diễn thuộc nhóm dễ gặp bất lợi trong hệ sinh thái quyền. Vì vậy, đào tạo nâng cao nhận thức sẽ khó tạo chuyển biến nếu thiếu các thiết chế hỗ trợ để chủ thể thực hiện và bảo vệ quyền trên thực tế.

Định giá để tài sản trí tuệ có thể đi vào thị trường

Một mắt xích khác là định giá. TS. Phạm Thế Dũng, Viện Nghiên cứu đổi mới và phát triển bền vững nhấn mạnh rằng, tài sản trí tuệ có thể mang giá trị lớn nhưng chưa dễ chuyển hóa thành tài sản bảo đảm của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo.

USSH_Tai san tri tue (21)
TS. Phạm Thế Dũng trình bày tham luận "Định giá tài sản trí tuệ cho SME các ngành công nghiệp văn hóa - sáng tạo: Rào cản tài chính và gợi ý chính sách cho Việt Nam".

Bốn nhóm rào cản được nhận diện gồm: thiếu chuẩn hóa về phương pháp, quy trình và báo cáo định giá; thiếu dữ liệu về giao dịch, tiền bản quyền và các mức tham chiếu; rủi ro pháp lý liên quan đến quyền sở hữu, thực thi và chuyển giao; thanh khoản thấp do thị trường thứ cấp và cơ chế xử lý tài sản chưa phát triển. Những rào cản này làm tăng chi phí vốn, hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng và đầu tư vào tài sản trí tuệ.

Kinh nghiệm quốc tế được TS. Lư Thị Thanh Lê, Trường Khoa học liên ngành, ĐH Quốc gia Hà Nội phân tích cho thấy tài chính hóa tài sản trí tuệ không thể tách rời hạ tầng dữ liệu. Việc chứng khoán hóa hoặc sử dụng dòng tiền từ quyền SHTT chỉ thuận lợi khi quyền được xác định rõ, dòng tiền được ghi nhận, báo cáo sử dụng được chuẩn hóa và có lịch sử doanh thu đủ dài để phục vụ định giá.

Từ kinh nghiệm của Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, năm nhóm vấn đề có thể được tham chiếu gồm: nền tảng pháp lý và thiết chế điều phối; dịch vụ hỗ trợ chủ thể sáng tạo và doanh nghiệp nhỏ và vừa; hạ tầng dữ liệu và cơ chế cấp phép; tài chính hóa tài sản trí tuệ; thực thi số và chính sách liên quan đến AI.

Một hàm ý đáng chú ý là muốn tài sản trí tuệ trở thành tài sản kinh tế thì cần đồng thời xây dựng dữ liệu đủ chính xác để cấp phép ở quy mô lớn, chuẩn định giá đủ tin cậy để thị trường vốn chấp nhận và cơ chế thực thi có chi phí đủ thấp để cá nhân sáng tạo có thể sử dụng./.

Nổi bật
    Mới nhất
    Quản trị tài sản trí tuệ: Từ bảo hộ quyền đến tạo giá trị cho công nghiệp văn hóa và sáng tạo