Diễn đàn

Những đạo luật nền tảng để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên số

QA 06/01/2026 15:03

Quốc hội khóa XV đã thông qua nhiều đạo luật quan trọng trong giai đoạn 2024 - 2025, không chỉ đánh dấu một bước tiến lớn về hoàn thiện thể chế, mà còn thể hiện rõ quyết tâm của Việt Nam trong việc kiến tạo động lực phát triển mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Ngày 5/1, Văn phòng Chủ tịch nước đã họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 13 luật vừa được Kỳ họp thứ 10, Quốc hội XV thông qua.

Trong đó, các luật do Bộ KH&CN chủ trì xây dựng như Luật Trí tuệ nhân tạo (AI) và Luật Chuyển đổi số (CĐS) được xem như những “viên gạch nền tảng” cho kiến trúc quốc gia số và năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên số.

Cùng với đó, các luật như Luật Công nghệ cao, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cho thị trường KH&CN, tạo cầu nối hiệu quả giữa nghiên cứu - ứng dụng - thương mại hóa tri thức.

vp-ctn-hop-bao-2-17676026198583521762.jpg
Buổi họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 13 luật, trong đó có: Luật AI; Luật Chuyển đổi số; Luật Công nghệ cao; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ. (Ảnh: VGP).

Tổng thể các đạo luật này hình thành một chỉnh thể thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam bứt phá về năng suất, chất lượng tăng trưởng và vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Luật Trí tuệ nhân tạo: Động cơ mới cho tăng trưởng và đổi mới sáng tạo

Luật Trí tuệ nhân tạo được Quốc hội khóa XV thông qua được xem là một dấu mốc lịch sử trong tiến trình hoàn thiện thể chế công nghệ của Việt Nam. Lần đầu tiên, một khung pháp lý toàn diện cho AI - công nghệ được coi là “động cơ mới” của tăng trưởng và đổi mới sáng tạo (ĐMST) - được xây dựng và ban hành ở cấp luật.

Theo ông Trần Văn Sơn, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ số và CĐS quốc gia - Bộ KH&CN, Luật AI của Việt Nam ra đời trong bối cảnh trên thế giới mới chỉ có số ít quốc gia và khu vực ban hành luật chuyên ngành về AI, gồm Liên minh châu Âu (EU), Hàn Quốc và Nhật Bản.

Phần lớn các quốc gia khác mới dừng lại ở chiến lược, khung hướng dẫn hoặc dự thảo. Điều này cho thấy Việt Nam không chỉ theo kịp mà còn tham gia sớm vào quá trình thiết lập “luật chơi” toàn cầu đối với công nghệ AI.

Luật AI được xây dựng với mục tiêu kép: Một mặt lấp đầy khoảng trống pháp lý trong quản lý các ứng dụng AI ngày càng đa dạng và phức tạp; mặt khác, chuyển từ tư duy quản lý thụ động sang kiến tạo chủ động, coi AI là động lực tăng trưởng chiến lược của nền kinh tế.

Qua đó, luật góp phần thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, đặc biệt là định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực then chốt cho phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Một nguyên tắc xuyên suốt của Luật AI là lấy con người làm trung tâm. Luật khẳng định AI là công cụ hỗ trợ con người, không thay thế vai trò quyết định của con người.

Việc phát triển và ứng dụng AI phải bảo đảm an toàn, minh bạch, có trách nhiệm, tôn trọng quyền con người, quyền công dân, đồng thời bảo vệ lợi ích quốc gia. Đây là điểm tiếp cận tương đồng với các chuẩn mực quốc tế tiến bộ, nhưng được điều chỉnh phù hợp với điều kiện và ưu tiên phát triển của Việt Nam.

Về phạm vi điều chỉnh, Luật AI bao quát toàn bộ chuỗi hoạt động liên quan đến nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng hệ thống AI tại Việt Nam, ngoại trừ các hoạt động phục vụ riêng cho mục đích quốc phòng, an ninh quốc gia và cơ yếu do tính chất đặc thù.

Luật áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam, cũng như tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động AI trên lãnh thổ Việt Nam, qua đó thiết lập cơ chế quản lý đối với các hoạt động xuyên biên giới và khẳng định chủ quyền quốc gia trong không gian số.

Về cấu trúc, Luật AI được thiết kế theo mô hình luật khung, gồm 8 chương, 35 điều, tập trung quy định các nguyên tắc nền tảng, tiêu chuẩn chung và cơ chế quản lý cốt lõi, đồng thời dành dư địa cho Chính phủ quy định chi tiết nhằm bảo đảm tính linh hoạt trước tốc độ phát triển nhanh của công nghệ.

Cách tiếp cận này cho phép chính sách AI của Việt Nam vừa có tính ổn định dài hạn, vừa thích ứng linh hoạt với thực tiễn.

Luật Chuyển đổi số: Luật khung cho kiến trúc quốc gia số

Song hành với Luật AI, Luật Chuyển đổi số được Quốc hội khóa XV thông qua được đánh giá là một đạo luật khung có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và vận hành kiến trúc quốc gia số.

Theo ông Trần Quốc Tuấn, đại diện Cục CĐS quốc gia, Bộ KH&CN, Luật CĐS đã hệ thống hóa và kết nối các quy định còn phân tán trước đây trong nhiều luật khác nhau, từ đó tạo ra một bức tranh tổng thể, thống nhất về CĐS trên phạm vi quốc gia.

Lần đầu tiên, các khái niệm cốt lõi như CĐS, dữ liệu số, nền tảng số, dịch vụ số, kinh tế số, xã hội số… được luật hóa đồng bộ, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc hoạch định và triển khai chính sách.

Luật gồm 8 chương, bao quát từ khái niệm, nguyên tắc, chính sách; cơ chế điều phối quốc gia; trách nhiệm của Nhà nước và các chủ thể; biện pháp bảo đảm; phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; đến các điều khoản thi hành.

Trọng tâm của Luật CĐS xử lý 6 nhóm vấn đề lớn:

Thứ nhất, thiết lập hành lang pháp lý thống nhất cho quốc gia số trên cơ sở kết nối các luật chuyên ngành và bổ sung các nội dung còn thiếu.

Thứ hai, xác lập cơ chế phát triển chính phủ số, kinh tế số và xã hội số ở cấp luật, thay vì chỉ dừng ở chiến lược hay chương trình.

Thứ ba, hình thành cấu trúc quản trị quốc gia về CĐS nhằm bảo đảm điều phối hiệu quả giữa các bộ, ngành và địa phương.

Thứ tư, luật hóa các nguồn lực cho CĐS, đặc biệt là nhân lực và tài chính, trong đó quy định tối thiểu 1% ngân sách nhà nước hằng năm cho hoạt động CĐS.

Thứ năm, quy định cơ chế đánh giá, đo lường và công khai kết quả chuyển đổi số định kỳ.

Thứ sáu, kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Công nghệ thông tin, bảo đảm tính liên tục và ổn định của hệ thống pháp luật khi luật này hết hiệu lực.

Đáng chú ý, Luật CĐS cũng bổ sung nhiều nội dung mới như hệ thống công cụ điều phối quốc gia gồm chương trình CĐS quốc gia, kiến trúc tổng thể quốc gia số, khung quản trị dữ liệu, khung năng lực số và bộ chỉ số đánh giá thống nhất; nguyên tắc thiết kế hệ thống số theo hướng thông minh, chủ động; cơ chế triển khai các dự án đầu tư hệ thống số chưa có tiền lệ; cùng các chính sách hỗ trợ CĐS cho khu vực nông thôn, vùng khó khăn và doanh nghiệp nhỏ và vừa.

"Những quy định này nhằm bảo đảm quá trình CĐS diễn ra toàn diện, bao trùm và bền vững", ông Trần Quốc Tuấn nhấn mạnh.

Hoàn thiện Luật thúc đẩy thị trường KH&CN

Bên cạnh hai đạo luật mang tính nền tảng, Luật Công nghệ cao gồm 6 chương, 27 điều đã tạo hành lang pháp lý đầy đủ, thống nhất để thúc đẩy phát triển công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ chiến lược; tập trung nguồn lực quốc gia cho nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và làm chủ các công nghệ có tính đột phá, lan tỏa.

Đồng thời, hoàn thiện chính sách, xác định công nghệ cao, công nghệ chiến lược là một trong những đột phá chiến lược nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.

Trong khi đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/4/2026 với 3 điều. Những nội dung chủ yếu trong Luật như: Cải cách thủ tục hành chính và CĐS toàn diện hoạt động SHTT; thúc đẩy khai thác thương mại quyền SHTT; bảo hộ đối tượng mới; xử lý vấn đề mới phát sinh và nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ quyền SHTT…

Trong khi đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động chuyển giao, thương mại hóa công nghệ.

Theo ông Chu Thúc Đạt, Phó Cục trưởng Cục ĐMST - Bộ KH&CN, lần sửa đổi này hướng tới ba mục tiêu chính:

Thứ nhất, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ hiệu quả, đồng bộ, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và xu thế quốc tế, đồng thời tăng cường phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Thứ hai, thúc đẩy ĐMST và chuyển giao công nghệ nội sinh, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học trong nước với các đối tác nước ngoài.

Thứ ba, phát triển thị trường KH&CN theo hướng hiệu quả, minh bạch và chuyên nghiệp, tạo môi trường thuận lợi cho các giao dịch công nghệ và tài sản trí tuệ.

Với 21 điều được sửa đổi, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ được kỳ vọng vừa kiểm soát rủi ro, vừa tạo thuận lợi cho đầu tư và phát triển công nghệ, qua đó nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Không để “luật chờ nghị định”

Năm 2025 là một năm chưa từng có tiền lệ trong công tác xây dựng thể chế của ngành KH&CN. Theo Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Hoàng Phương, trong năm 2025, Bộ KH&CN đã tham mưu xây dựng, sửa đổi và ban hành 10 luật, 23 nghị định và gần 70 thông tư, tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho phát triển KH&CN, ĐMST và CĐS.

tt-bui-hoang-phuong.jpg
Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương nhấn mạnh: Không để xảy ra tình trạng “luật chờ nghị định”.

Theo bà Nguyễn Như Quỳnh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, ngay sau khi các luật được Quốc hội thông qua, để bảo đảm các đạo luật sớm đi vào cuộc sống, Bộ KH&CN đã chủ động xây dựng kế hoạch triển khai thi hành ngay từ sớm, phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp để dự kiến ban hành 16 văn bản quy định chi tiết, không để xảy ra tình trạng “luật chờ nghị định”. Hiện nay, các đơn vị chủ trì xây dựng văn bản trong Bộ đã bắt tay vào soạn thảo.

Đồng thời, Bộ chỉ đạo đẩy mạnh công tác truyền thông, xây dựng cẩm nang và tài liệu hướng dẫn, giúp người dân và doanh nghiệp tiếp cận, áp dụng luật ngay khi có hiệu lực.

Có thể khẳng định, việc Quốc hội khóa XV thông qua các đạo luật nền tảng nói trên đã tạo nên một “trục thể chế” quan trọng cho kỷ nguyên số của Việt Nam. Đây không chỉ là những quy định pháp luật đơn thuần, mà là công cụ chiến lược để Nhà nước kiến tạo phát triển, doanh nghiệp ĐMST và xã hội chuyển mình theo hướng hiện đại, bao trùm và bền vững.

Với nền tảng pháp lý đó, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để bứt phá, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và khẳng định vị thế trong nền kinh tế số toàn cầu./.

Luật AI có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/3/2026.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/4/2026.

Luật Công nghệ cao và Luật Chuyển đổi số đều có hiệu lực
thi hành kể từ ngày 1/7/2026./.

Nổi bật
    Mới nhất
    Những đạo luật nền tảng để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên số