Nâng cao chất lượng các tạp chí khoa học của Việt Nam theo chuẩn Scopus và Web of Science
Bên cạnh việc đầu tư cho nguồn nhân lực, cần phải xây dựng được hệ sinh thái khoa học phía sau tạp chí, bao gồm nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, các hội thảo khoa học quốc tế và mạng lưới cộng tác viên quốc tế… Đây là kinh nghiệm mà Tạp chí Khoa học và Công nghệ Giao thông (Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải) chia sẻ tại Hội thảo quốc gia “Nâng cao chất lượng các tạp chí khoa học của Việt Nam theo chuẩn Scopus và Web of Science”.
Hội thảo do Đảng ủy các trường đại học, cao đẳng Hà Nội chủ trì, phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Đại học Bách khoa Hà Nội và Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải tổ chức ngày 18/9/2026 tại Hà Nội.
Từ Nghị quyết 57 và Nghị quyết 71: Đặt tạp chí khoa học vào trung tâm của hệ sinh thái tri thức
Hội thảo được tổ chức trong bối cảnh Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính cho phát triển nhanh và bền vững; đồng thời Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó giáo dục đại học phải gắn chặt hơn với nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Trên tinh thần đó, phát triển tạp chí khoa học không còn chỉ là câu chuyện của một tòa soạn hay một ban biên tập. Tạp chí khoa học là một cấu phần của hạ tầng khoa học quốc gia: nơi kiểm chứng, công bố và lan tỏa tri thức; nơi hình thành chuẩn mực học thuật, thúc đẩy liêm chính nghiên cứu, kết nối cộng đồng khoa học trong nước với quốc tế và phản ánh năng lực nghiên cứu của cơ quan chủ quản.
Vì vậy, việc nâng cao chất lượng tạp chí theo các chuẩn mực của Scopus và Web of Science phải được nhìn nhận như một quá trình chuẩn hóa toàn diện về chất lượng học thuật, quản trị biên tập, phản biện, đạo đức xuất bản, dữ liệu, chuyển đổi số và quốc tế hóa.
Ý nghĩa sâu xa của quá trình này không nằm ở việc “chạy theo chỉ mục”, mà ở việc tạo ra những kênh công bố có uy tín ngay tại Việt Nam, để tri thức Việt Nam được nhìn thấy, được phản biện, được trích dẫn và tham gia sâu hơn vào dòng chảy tri thức toàn cầu; đồng thời tạo điều kiện thu hút các nhà khoa học, phản biện và mạng lưới nghiên cứu quốc tế đến với các nền tảng học thuật do Việt Nam xây dựng và quản trị.

Chia sẻ về thực trạng các tạp chí khoa học trong nước, ông Trần Đắc Hiến, Cục trưởng Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học, Bộ KH&CN cho biết, cả nước hiện có 506 tạp chí khoa học, trong đó các bộ, cơ quan Trung ương có 40 tạp chí (7,9%), cơ sở giáo dục đại học có 245 tạp chí (48,4%), tổ chức nghiên cứu phát triển (bao gồm bệnh viện) có 113 tạp chí (22,3%), hai Viện Hàn lâm có 48 tạp chí (9,5%), hội nghề nghiệp và tổ chức khác có 60 tạp chí (11,9%).
Đặc biệt, khối trường đại học và viện nghiên cứu chiếm 70,75% tổng số tạp chí toàn quốc, phản ánh xuất bản gắn chặt với nghiên cứu và đào tạo.
Theo ông Trần Đắc Hiến, về hạ tầng số, hơn một nửa số tạp chí chưa có website đăng tải dữ liệu có cấu trúc hoặc chưa hình thành quy trình xuất bản điện tử khép kín (OJS) từ tiếp nhận, phản biện đến xuất bản.
Việc áp dụng các chuẩn/quy tắc trích dẫn và trình bày tài liệu tham khảo tại nhiều tạp chí còn pha trộn, thiếu nhất quán, khó nhận diện và truy xuất nguồn dù có kê khai áp dụng các chuẩn quốc tế (APA, IEEE, Vancouver). Về thực hiện các quy định chính sách, các quy định về bình duyệt độc lập (double-blind review), đạo đức xuất bản, xung đột lợi ích mới dừng ở “tuyên bố trên website”, thiếu bằng chứng chứng minh trong hồ sơ biên tập…
Đạt chuẩn Scopus từ nguồn lực nội tại - Trường hợp điển hình của Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải
Điểm nhấn của hội thảo chính là những chia sẻ rất thẳng thắn của PGS. TS. Nguyễn Hoàng Long, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải về Tạp chí Khoa học và Công nghệ Giao thông (Journal of Science and Transport Technology - JSTT).
PGS. TS. Nguyễn Hoàng Long cho biết, được thành lập từ năm 2021 và định hướng theo chuẩn quốc tế ngay từ đầu, JSTT được Nhà trường trực tiếp đầu tư, quản trị và phát triển chủ yếu bằng nguồn lực nội tại. Sau hơn ba năm, Tạp chí đã được Scopus chấp nhận lập chỉ mục; khoảng một năm sau tiếp tục nâng hạng từ Q4 lên Q3 và được Scopus mở rộng theo định hướng tạp chí quốc tế đa ngành.

PGS. TS. Nguyễn Hoàng Long cho rằng, giá trị lớn nhất của trường hợp JSTT không chỉ nằm ở một chỉ mục hay một thứ hạng. Dấu ấn đặc biệt là việc một trường đại học Việt Nam có thể chủ động xây dựng thương hiệu xuất bản khoa học của chính mình, làm chủ quy trình biên tập - phản biện, hạ tầng số, mạng lưới học thuật và định hướng phát triển, nhưng vẫn đạt được sự thừa nhận của một cơ sở dữ liệu quốc tế lớn.
Kinh nghiệm này củng cố niềm tin rằng các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển tạp chí đạt chuẩn quốc tế nếu có chiến lược rõ ràng, quản trị chuyên nghiệp, đầu tư bền bỉ và cam kết chất lượng từ lãnh đạo đến đội ngũ thực hiện.
“Muốn có tạp chí quốc tế, trước hết phải có chất lượng khoa học quốc tế; muốn có trích dẫn quốc tế trước hết phải tạo ra tri thức có giá trị quốc tế và muốn tạp chí phát triển bền vững phải xây dựng được hệ sinh thái khoa học phía sau tạp chí”, PGS. TS. Nguyễn Hoàng Long nhấn mạnh.
Đồng tình với quan điểm trên, ông Trần Đắc Hiến cho rằng, tạp chí khoa học là cấu phần hạ tầng KH&CN cốt lõi, cần nhìn nhận nó không chỉ là kênh công bố kết quả nghiên cứu, mà là công cụ kiểm định chất lượng, bảo vệ liêm chính và nâng cao uy tín học thuật của Việt Nam.
Do đó, để nâng cao chất lượng các tạp chí khoa học của Việt Nam theo chuẩn Scopus và Web of Science thì các cơ quan chủ quản cần ưu tiên nguồn lực cho chuyển đổi số và liêm chính xuất bản, đầu tư hạ tầng xuất bản điện tử khép kín (OJS), mã định danh DOI, ORCID và các công cụ soát xét đạo văn, quản lý nghiêm ngặt AI tạo sinh.
Đặc biệt, các cơ quan cần đồng hành cùng Bộ KH&CN, trực tiếp là Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học để kết nối dữ liệu dùng chung, đưa tạp chí ra quốc tế, từng bước nâng cấp các tạp chí tiềm năng đạt chuẩn Scopus/WoS. Đồng thời thực hiện thành công mục tiêu xây dựng hệ sinh thái xuất bản khoa học Việt Nam minh bạch, tin cậy, chất lượng, gia tăng thực chất tầm ảnh hưởng học thuật quốc tế.
Tại hội thảo, các đại biểu đã cùng hội tụ ở một nhận thức: Scopus và Web of Science là những chuẩn tham chiếu quốc tế quan trọng, nhưng đích đến cuối cùng vẫn là chất lượng khoa học thực chất. Một tạp chí chỉ có thể phát triển bền vững khi chất lượng bài báo được bảo đảm, phản biện độc lập và nghiêm túc, đạo đức xuất bản được tôn trọng, quản trị dựa trên dữ liệu, hạ tầng số được làm chủ và mức độ quốc tế hóa được nâng lên bằng những hợp tác học thuật thực chất.
Từ tinh thần của Nghị quyết 57 và Nghị quyết 71, hội thảo gửi đi một thông điệp có tính hành động: các trường đại học Việt Nam không chỉ là nơi đào tạo, mà phải trở thành những trung tâm sáng tạo tri thức, nghiên cứu và hội nhập quốc tế; và tạp chí khoa học chính là một trong những hạ tầng quan trọng để thực hiện sứ mệnh đó.
Khi các cơ sở giáo dục đại học chủ động đầu tư, liên kết và kiên trì theo đuổi chuẩn mực quốc tế, Việt Nam có cơ sở để xây dựng thêm nhiều tạp chí có uy tín, đưa tri thức Việt Nam ra thế giới và từng bước nâng cao vị thế của khoa học Việt Nam trong cộng đồng học thuật toàn cầu./.
