Năm 2025 đánh dấu sự bứt phá trong lĩnh vực hạ tầng số, bưu chính
Năm 2025 là năm bứt phá của hạ tầng số Việt Nam, cả về tốc độ, quy mô và độ bao phủ. Trong khi đó, doanh thu dịch vụ bưu chính đạt 87.000 tỷ đồng, sản lượng bưu gửi đạt 4,2 tỷ bưu gửi, phục vụ nhu cầu đa dạng của xã hội.
Ngày 10/1/2026, tại Hà Nội, Khối các đơn vị lĩnh vực Bưu chính Viễn thông (BCVT) của Bộ KH&CN gồm 6 đơn vị: Cục Tần số Vô Tuyến điện (ARFM), Cục Bưu điện Trung ương (CPT), Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), Cục Viễn thông (VNTA), Vụ Bưu chính, Quỹ Viễn thông Công ích Việt Nam (VTCI) (VTF) đã tổ chức hội nghị triển khai chương trình công tác năm 2026.
Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng, Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Đức Long tham dự và chỉ đạo hội nghị.
Hội nghị còn có sự tham dự của lãnh đạo các đơn vị qua các thời kỳ, các doanh nghiệp (DN) viễn thông và hơn 800 cán bộ tham dự trực tiếp và trực tuyến.

Thể chế lĩnh vực BCVT được cải thiện mạnh mẽ
Báo cáo những kết quả hoạt động nổi bật của Khối, ông Lê Văn Tuấn, Cục trưởng Cục Tần số Vô tuyến điện (VTĐ) nhấn mạnh trước hết là công tác thể chế. Trong năm 2025, khối BCVT đã hoàn thành một khối lượng lớn số văn bản quy phạm pháp luật (QPPL).
Năm 2025, số lượng văn bản hoàn thành chiếm hơn 30% số lượng văn bản QPPL của cả nhiệm kỳ 2020 - 2025, dù xét dưới nhóm luật, nghị định hay thông tư.
Khối có 3 luật, thì trong nhiệm kỳ đã hoàn thành sửa 2 luật, còn luật Bưu chính sẽ được sửa đổi trong năm 2026.

“Điều quan trọng là các văn bản trên đã tháo gỡ nhiều điểm nghẽn thể chế, gồm cả điểm nghẽn đã kéo dài nhiều năm, mở ra không gian mới, mở đường cho hạ tầng số được phát triển mạnh”, Cục trưởng Lê Văn Tuấn nhấn mạnh.
Hạ tầng số phát triển nhanh và đồng bộ
Năm 2025 là năm bứt phá của hạ tầng số Việt Nam, cả về tốc độ, quy mô và độ bao phủ, thể hiện qua một số chỉ tiêu nổi bật như:
Internet băng rộng cố định tăng 4,5 lần, xếp hạng 11 thế giới, tăng 49 bậc so với đầu nhiệm kỳ. So với 2024 thì con số tăng là 1,7 lần, đạt 280 Mbps.
Internet băng rộng di động tăng 4,7 lần so với đầu nhiệm kỳ, gấp 2 lần so với 2024, xếp hạng 17 thế giới, tăng 45 bậc, đạt tốc độ 160 Mbps.
Hạ tầng 4G phủ sóng đạt 99,48% dân số; 5G tăng trưởng đột phá với vùng phủ từ 0,93% năm 2023 lên 90,2% (2025), số trạm 5G từ 184 tăng lên 35.304 trạm.
Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng cáp quang đạt 87,6% năm 2025.
Hai tuyến cáp quang quốc tế mới (ADC, SJC2) đã được đi vào hoạt động, tổng dung lượng tăng gần 5 lần (16 Tbps lên 80 Tbps).
Tổng công suất các trung tâm dữ liệu đạt 364 MW, tăng 68% so với 2024, tăng 2,5 lần so với năm 2021.
Phủ sóng vùng lõm sóng, nâng cao năng lực sản xuất, triển khai IoT
Trong giai đoạn 2020 - 2025, với tinh thần chủ động, tích cực trong công tác chỉ đạo, điều phối phủ sóng vùng lõm sóng, Bộ KH&CN đã hoàn thành phủ lõm sóng cho 3.238 thôn.
Năm 2025 cũng ghi dấu ấn khi Việt Nam cũng được Gartner ghi nhận là 1 trong 5 quốc gia đầu tiên sản xuất được thiết bị 5G.
Bên cạnh đó, việc ứng dụng IoT vào các ngành kinh tế - xã hội trọng điểm cũng được thúc đẩy mạnh mẽ để quản lý thông minh hơn, vận hành hiệu quả hơn. Đã có 34/34 địa phương ban hành Kế hoạch ứng dụng IoT trong khu công nghiệp. Các địa phương tiên phong như Lào Cai, Bắc Ninh đã ban hành đề án riêng.
“Hạ tầng số đang dần trở thành hạ tầng thiết yếu của nền kinh tế, phát triển bao trùm, đồng bộ, là nền tảng của kinh tế số, Chính phủ số, xã hội số”, ông Lê Văn Tuấn cho hay.
Quản lý tần số thúc đẩy phát triển hạ tầng số
Về thúc đẩy hạ tầng số, công tác quản lý tần số, ông Lê Văn Tuấn cho biết có 4 đóng góp quan trọng:
Thứ nhất, năm 2025 đã tổ chức đấu giá thành công thêm 2 cuộc đấu giá, nâng tổng lượng băng tần cấp cho di động tăng gấp 2 lần so với đầu nhiệm kỳ.
Theo ông Lê Văn Tuấn: “Đấu giá tần số đã kích hoạt sự tăng trưởng vượt bậc của tốc độ di động băng rộng tại Việt Nam. Kết quả này có sự đóng góp từ quá trình xây dựng quy hoạch băng tần đến việc giải phóng, làm sạch băng tần, cuối cùng là định giá và đấu giá”.
Thứ hai, việc xác lập được thời điểm tắt sóng 2G, 3G trong quy hoạch băng tần và tổ chức ngừng 2G là một dấu mốc lớn, chuyển từ hạ tầng “a-lô” sang hạ tầng dữ liệu.
Thứ ba, bổ sung 500 MHz, tăng 75% về băng thông cho WiFi, cải thiện truy nhập Internet băng rộng cho người dân.
Thứ tư, xác lập được các điều kiện để cấp lại và thực thi việc cấp lại các băng tần, thay vì thu hồi lại băng tần và tổ chức đấu giá lại, giữ ổn định cho thị trường di động 120 triệu thuê bao, đặc biệt là mạng 4G.
Năm 2025 cũng là năm đầu tiên thực hiện phân cấp và đã phân cấp thành công cho địa phương về cấp phép tần số. Trong 21.000 giấy phép được cấp trong năm 2025, địa phương đã cấp trên 3.000. 32/34 tỉnh đã thực hiện cấp phép tần số đúng hạn.
Về chuyển đổi số (CĐS) công tác quản lý tần số, năm 2025 có 2 dấu ấn quan trọng thay đổi cách làm: Đưa vào nền tảng iSpectra vào sử dụng để phát hiện, khoanh vùng nguồn nhiễu cho đi động; Kết nối với cơ sở dữ liệu (CSDL) bên ngoài, cụ thể là CSDL về đăng kiểm tàu thuyền, để đối chứng, so sánh với CSDL tần số, từ đó phát hiện trường hợp nghi ngờ vi phạm để xử lý, đem lại hiệu quả cao.
Cục Tần số VTĐ trong năm 2025 cũng đã phát hiện được 5 vụ dùng BTS giả, 1 vụ dùng simbox cho mục đích lừa đảo trên không gian mạng, nâng tổng số vụ BTS Cục phát hiện lên tới 38 vụ, 5 vụ simbox giả; Giúp lực lượng chức năng bắt giữ 48 đối tượng, trong đó có 8 đối tượng là người nước ngoài.
Về hợp tác quốc tế, Cục Tần số VTĐ tiếp tục là nhân tố tích cực trong tham gia xây dựng luật chơi chung về tần số với số lượng đề xuất 157, chỉ xếp sau Indonesia và vượt xa các nước khác trong ASEAN.
Hạ tầng Internet quốc gia đã đạt độ “chín” về kỹ thuật
Trong khi đó, trong giai đoạn 2021 - 2025, trên nền tảng hoàn thiện thể chế, bảo đảm an toàn hạ tầng và từng bước làm chủ các hệ thống số cốt lõi, VNNIC đã đạt những kết quả nổi bật, tạo nền móng vững chắc cho phát triển Internet và hạ tầng số quốc gia:
Về tài nguyên IPv4, Việt Nam hiện quản lý 16,46 triệu địa chỉ, với 917 số hiệu mạng ASN và 1.174 thành viên, xếp hạng 2 ASEAN, thứ 8 Châu Á. Con số này phản ánh quy mô và mức độ hoàn chỉnh của hệ thống mạng quốc gia.
Về IPv6, tỷ lệ triển khai đạt 67,68%, đứng thứ 7 thế giới. Trọng tâm hiện nay không chỉ là mở rộng tỷ lệ mà là chuyển dịch kiến trúc mạng từ dual-stack (IPv4 và IPv6) sang mạng chỉ IPv6 only, chuẩn bị cho lộ trình ngừng phụ thuộc IPv4, phù hợp với xu thế toàn cầu và yêu cầu mở rộng Internet, IoT, 5G/6G.
Đối với tên miền quốc gia “.vn”, quy mô đạt 683.621 tên miền, xếp thứ 3 ASEAN, tăng trưởng ổn định 3-6% mỗi năm, cho thấy mức độ tin cậy cao của hạ tầng DNS và sự chấp nhận rộng rãi của thị trường.
Hệ thống đo lượng tốc độ Internet iSpeed do VNNIC xây dựng hiện thu thập 2,3 triệu mẫu đo mỗi tháng, tăng 230% so với năm 2023, 1,3 triệu lượt cài đặt ứng dụng.
Hệ thống DNS quốc gia được triển khai theo mô hình Anycast, hỗ trợ IPv6, DNSSEC, đạt SLA 99,999%, đáp ứng chuẩn ISO 27001:2022, bảo đảm tính sẵn sàng, an toàn và khả năng chịu tải cao.
Ông Lê Văn Tuấn nhấn mạnh: “Hạ tầng Internet quốc gia đã đạt độ “chín” về kỹ thuật, sẵn sàng bước sang giai đoạn tối ưu, tự động hóa và IPv6 Only trong giai đoạn tiếp theo”.
VNNIC cũng từng bước làm chủ 4 nền tảng hạ tầng số cốt lõi, chuyển mạnh sang mô hình quản lý dựa trên dữ liệu và tự chủ công nghệ. Bên cạnh iSpeed, VNNIC đã xây dựng và đưa vào sử dụng các nền tảng:
Internet Atlas: Hệ thống giám sát, thống kê và hoạch định phát triển Internet, hạ tầng số theo vùng, địa phương và toàn quốc.
Nền tảng quản Hệ thống quản lý tên miền thế hệ mới (SRS-EPP), 100% hồ sơ được số hóa, xác thực điện tử (eKYC).
Hệ thống quản lý địa chỉ IP/ASN (IPMS) liên thông quốc tế: 100% quy trình, báo cáo thực hiện trực tuyến.
DNS Abuse: Nền tảng tiếp nhận, giám sát và phối hợp xử lý lạm dụng tên miền, giúp nâng cao an toàn, tin cậy của tên miền quốc gia ".vn".
Hạ tầng số “đặc biệt” phục vụ toàn bộ hệ thống chính trị
Thông tin về một số kết quả hoạt động của Cục Bưu điện Trung ương, ông Lê Văn Tuấn cho biết, hạ tầng số “đặc biệt” được đơn vị quản lý, vận hành trong 5 năm qua đã giữ vai trò then chốt trong bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước an toàn, thông suốt, tin cậy trong mọi tình huống.
Đầu năm 2025, hệ thống đáp ứng các phiên họp quy mô 16.000 điểm cầu, với khoảng 1,5 triệu đảng viên, thể hiện năng lực điều hành tập trung, hiện đại.
Từ tháng 7/2025, hạ tầng Mạng Truyền số liệu chuyên dùng được nâng cấp, tái cấu trúc trong 30 ngày, phục vụ mô hình chính quyền địa phương 2 cấp không gián đoạn.
Ông Lê Văn Tuấn cũng nhấn mạnh: “CĐS mạng bưu chính KT1 là một bước chuyển căn bản từ mô hình khai thác truyền thống sang mô hình quản lý, điều hành tập trung - thời gian thực - dựa trên dữ liệu”.
Bưu chính là hạ tầng logistic quốc gia trên nền tảng số
Về lĩnh vực bưu chính, thông tin một số kết quả nổi bật của lĩnh vực, ông Lê Văn Tuấn cho biết, năm 2025, cũng như giai đoạn 2020 - 2025 ghi nhận sự phát triển rất nhanh và ổn định của lĩnh vực bưu chính với mức tăng trưởng doanh thu bưu chính bình quân 18,6%/năm, tăng trưởng sản lượng bưu gửi bình quân 31,5%/năm.
Năm 2025, doanh thu dịch vụ bưu chính đạt 87.000 tỷ đồng, sản lượng bưu gửi đạt 4,2 tỷ bưu gửi, phục vụ nhu cầu đa dạng của xã hội.
Số điểm phục vụ bưu chính trên cả nước về cơ bản không tăng, trong khi đó, số lao động chính thức tăng đều qua các năm, mỗi năm chỉ tăng khoảng 6% số lao động.
Điều này thể hiện năng suất lao động của nhân lực bưu chính ngày càng tăng, đó là nhờ ứng dụng công nghệ số, CĐS toàn bộ quá trình vận hành của các DN bưu chính, đặc biệt là các DN bưu chính lớn.
Trong giai đoạn 2020 - 2025, dịch vụ bưu chính công ích (BCCI) đóng vai trò quan trọng để triển khai dịch vụ công trực tuyến toàn trình thông qua việc hỗ trợ gửi, nhận hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính (TTHC), giúp tiết kiệm chi phí xã hội. Hằng năm, khoảng 18-20 triệu hồ sơ TTHC được gửi qua dịch vụ BCCI.
Một trong các giải pháp đột phá trong cải cách hành chính là chuyển giao một số công việc hỗ trợ giải quyết TTHC cho nhân viên bưu điện thực hiện. Hết năm 2025, có 626 nhân viên bưu điện đang làm việc tại Bộ phận Một cửa cấp tỉnh, cấp xã để hỗ trợ giải quyết TTHC thay cho các công chức.
Viễn thông công ích: Không ai bị bỏ lại phía sau
Về viễn thông công ích (VTCCI), trong giai đoạn từ 2020 - 2025 với mục tiêu đảm bảo “Không ai bị bỏ lại phía sau”, Quỹ Dịch vụ VTCI thực hiện hỗ trợ khoảng 1,9 triệu bộ đầu thu truyền hình số cho hộ nghèo, hộ cận nghèo; Quỹ đã phối hợp với các DN viễn thông thực xây dựng: 1.817 trạm BTS để cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất tại các khu vực đặc biệt khó khăn; 1.755 điểm cung cấp dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất (cáp quang đến hộ gia đình) tại các khu vực đặc biệt khó khăn.
Trong giai đoạn từ 2022 - 2025, Quỹ Dịch vụ VTCI thực hiện hỗ trợ: Khoảng 1 triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo có nhu cầu sử dụng Dịch vụ VTCI, cụ thể là 850.000 hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ cước sử dụng dịch vụ viễn thông di động mặt đất; 150.000 hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ cước sử dụng dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất
Về hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông bắt buộc, đã có 110 triệu tin nhắn cảnh báo khẩn cấp; 4,5 triệu phút gọi tìm kiếm, cứu nạn hàng hải.
Khối BCVT đã hoàn thành nhiều việc mới, khó
Trước các kết quả đạt được của Khối BCVT trong năm 2025 cũng như cả giai đoạn 5 năm, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng đánh giá cao nỗ lực của 6 đơn vị.

“Các đơn vị không chỉ hoàn thành nhiệm vụ thường xuyên mà còn đảm đương rất là tốt các việc mới, việc khó. Trong 5 năm qua, có rất nhiều việc khó. Các công việc được triển khai trong giai đoạn đại dịch COVID là một ví dụ. Đây là điều rất đáng trân trọng”.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đánh giá năm 2025, cán bộ trong Khối BCVT thay đổi nhiều, thay đổi nhận thức, thay đổi cách làm và đặc biệt là sử dụng các công cụ làm việc mới, nhất là AI. Việc thay đổi này hướng tới kết quả nhiều hơn, tức là không làm theo ý nghĩa là đóng việc mà làm ra kết quả.
Thay mặt cho Ban Thường vụ, lãnh đạo Bộ, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng trân trọng cảm ơn và biết ơn sự hy sinh vất vả, tận tâm, tận lực của cán bộ, công viên chức và người lao động của 6 đơn vị./.
