Kết nối nguồn lực phát triển hệ sinh thái công nghệ sinh học xuất sắc
Hội thảo quốc tế Mạng lưới Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu Xuất sắc về Công nghệ sinh học 2026 đã làm rõ nhu cầu liên kết đào tạo, nghiên cứu, y tế và doanh nghiệp để đưa kết quả khoa học vào thực tiễn. Các tham luận tại Hội thảo cho thấy Việt Nam đã hình thành nhiều năng lực nghiên cứu quan trọng, song cần tiếp tục đầu tư nhân lực, hạ tầng, cơ chế chuyển giao và hợp tác quốc tế để xây dựng chuỗi giá trị công nghệ sinh học có sức cạnh tranh.
Hình thành hệ sinh thái tích hợp từ mạng lưới 22 thành viên
Ngày 10/10, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đã tổ chức Hội thảo quốc tế Mạng lưới Trung tâm đào tạo và nghiên cứu xuất sắc về công nghệ sinh học 2026 với sự tham gia của các nhà khoa học, giảng viên, người học, cơ quan quản lý, bệnh viện và doanh nghiệp.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, PGS. TS. Lê Thanh Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, khẳng định, Nhà trường mong muốn phát huy vai trò kết nối giữa trường đại học, viện nghiên cứu, bệnh viện, doanh nghiệp và các đối tác công nghiệp. Trên nền tảng 70 năm đào tạo, nghiên cứu và phát triển công nghệ trong khoa học sự sống và công nghệ sinh học, sự kết nối này hướng tới nghiên cứu chung, trao đổi tri thức và công nghệ, đổi mới sáng tạo hợp tác, đồng thời chuyển các phát hiện khoa học thành ứng dụng y sinh và công nghiệp.
Theo PGS. TS. Phạm Thế Hải, Trưởng Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, công nghệ sinh học đã trở thành một công nghệ chiến lược của thế giới, thúc đẩy tiến bộ trong y sinh, dược phẩm, công nghiệp, nông nghiệp và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đối diện bốn điểm nghẽn đáng chú ý: thiếu nhân lực trình độ cao; hạ tầng nghiên cứu hiện đại còn hạn chế; năng lực nghiên cứu liên ngành chưa đáp ứng yêu cầu; và liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu, bệnh viện với doanh nghiệp còn yếu.
Mạng lưới Trung tâm Xuất sắc và Tài năng về công nghệ sinh học trong công nghiệp và y sinh được thành lập theo Quyết định số 374/QĐ-TTg ngày 11/2/2025 của Thủ tướng Chính phủ. Đến nay, Mạng lưới đã kết nối 22 đơn vị trong và ngoài nước, gồm các trường đại học, viện nghiên cứu, bệnh viện và doanh nghiệp. Mục tiêu của Mạng lưới không dừng ở tập hợp thành viên, mà là tạo một hệ sinh thái tích hợp giữa giáo dục, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ; phát triển chương trình đào tạo liên ngành và nhân lực tài năng; xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh; chia sẻ hạ tầng; thúc đẩy chuyển giao, thương mại hóa sản phẩm công nghệ sinh học giá trị cao.
Kết nối năng lực nghiên cứu với chuỗi giá trị quốc gia
PGS. TS. Phí Quyết Tiến, Viện trưởng Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, xây dựng chuỗi giá trị công nghệ sinh học cạnh tranh đòi hỏi đồng thời năng lực tự chủ công nghệ, liên kết viện - doanh nghiệp, khả năng nâng quy mô, quy trình chuẩn hóa và thương mại hóa theo nhu cầu thị trường. Viện Sinh học hiện có danh mục năng lực trải rộng từ công nghệ vi sinh và enzyme, công nghệ sinh học y dược, gene và omics, tế bào và tế bào gốc, vaccine và chế phẩm sinh học đến chẩn đoán phân tử, cảm biến sinh học, công nghệ sinh học môi trường và nông nghiệp.

PGS. TS. Phí Quyết Tiến cho biết, năm 2025, Viện Sinh học tạo ra 447 sản phẩm khoa học và công nghệ, trong đó có 256 công bố trên các tạp chí thuộc cơ sở dữ liệu Web of Science, 12 bằng độc quyền sáng chế và 21 giải pháp hữu ích. Đây là nền tảng để phát triển, chuyển giao công nghệ theo hướng tăng quy mô, chuẩn hóa và phục vụ công nghiệp.
Mở rộng biên ứng dụng từ y sinh chính xác đến công nghệ organoid
Trong lĩnh vực y tế, cụ thể là bệnh ung thư, GS. TS. BS. Michelle Hermiston, Viện trưởng Viện Khoa học Sức khỏe, Giám đốc Khoa học Trung tâm Nghiên cứu đổi mới khoa học sức khỏe, Trường Đại học VinUni phân tích con đường đưa liệu pháp tế bào CAR-T và các liệu pháp miễn dịch thế hệ mới vào thực hành lâm sàng. Theo đó, y học cá thể hóa cho phép lựa chọn chiến lược điều trị dựa trên đặc điểm sinh học của từng người bệnh và khối u.
Dù năng lực nghiên cứu ung thư, chẩn đoán phân tử, thử nghiệm lâm sàng và liệu pháp tế bào tại Việt Nam đang mở rộng, việc triển khai vẫn phải giải quyết đồng thời các yêu cầu về hạ tầng, nhân lực, khung quản lý, sản xuất và chuỗi cung ứng, chi phí điều trị, lựa chọn người bệnh và tiếp cận công bằng.
PGS. TS. Jongman Yoo, nhà sáng lập kiêm Tổng giám đốc OrganoidSciences, giới thiệu organoid - “cơ quan thu nhỏ” ba chiều được nuôi từ mô người hoặc tế bào gốc. Mặc dù kích thước chỉ ở mức milimét, organoid có thể mô phỏng tế bào, cấu trúc và chức năng của cơ quan thật. Công nghệ này đã tái tạo nhiều loại mô và cơ quan như gan, ruột, não, da và khối u, nhờ đó nâng độ chính xác của thử nghiệm độc tính và hiệu quả thuốc ở giai đoạn tiền lâm sàng, hỗ trợ y học chính xác, mô hình hóa bệnh và y học tái tạo.
Đưa khoa học sự sống vào những bài toán thực tiễn
Tại Hội thảo, TS. Phạm Lương Thắng, chuyên gia y sinh tại Công ty BioTuring giới thiệu việc kết hợp sinh học không gian với trí tuệ nhân tạo và học sâu. Phương pháp bảo tồn bối cảnh giải phẫu của mô đồng thời với dữ liệu biểu hiện gene ở mức đơn bào, qua đó giúp lập bản đồ chuyển đổi trạng thái tế bào, xác định đích điều trị theo vị trí và giải mã vi môi trường khối u - miễn dịch hoặc tổn thương mô. Theo TS. Phạm Lương Thắng, Việt Nam có thể tận dụng các nền tảng trí tuệ nhân tạo có khả năng mở rộng, hợp tác liên ngành và hạ tầng tin sinh học trong nước để phát triển khám phá đa omics và y học chính xác chuyển dịch.
Trong khi đó, ông Trương Văn Hiền, Tổng giám đốc kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Agrimex dẫn chứng trường hợp phát triển hệ sinh thái nước khoáng trị liệu Đắk Mol từ nguồn nước khoáng nóng giàu bicarbonate tại giếng khoan LK809B, xã Đắk Song, tỉnh Lâm Đồng. Từ năm 2021, doanh nghiệp phối hợp với Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên, Bệnh viện Đa khoa Đắk Nông và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Lâm Đồng thực hiện nghiên cứu lâm sàng trên khoảng 450 người mắc viêm da cơ địa, viêm khớp dạng thấp và mất ngủ. Một nghiên cứu khác với Bệnh viện Ung bướu Nghệ An khảo sát khả năng hỗ trợ giảm viêm da do xạ trị ở 250 người bệnh ung thư và ghi nhận kết quả bước đầu đáng khích lệ.
Bốn trụ cột hợp tác cho giai đoạn tiếp theo
Tại Hội thảo, các đại biểu đã thống nhất xác định bốn trụ cột hợp tác gồm: đổi mới đào tạo và trao đổi học thuật; chia sẻ hạ tầng phòng thí nghiệm và cơ sở dữ liệu; tăng cường liên kết viện - trường - doanh nghiệp để gắn nghiên cứu và phát triển với nhu cầu thị trường; mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực và kết nối chuyên gia.
Phát biểu tổng kết hội thảo, PGS. TS. Phạm Thế Hải, Trưởng Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN nhấn mạnh việc tăng cường kết nối giữa các thành viên Mạng lưới, thúc đẩy hợp tác đào tạo và nghiên cứu gắn với thực tiễn. Từ các số liệu và trường hợp được trình bày, có thể thấy ưu tiên trước mắt là vận hành cơ chế chia sẻ hạ tầng; hình thành nhiệm vụ nghiên cứu liên ngành theo nhu cầu thực tế; chuẩn hóa quy trình chuyển giao; đồng thời đào tạo đội ngũ có khả năng làm việc ở giao điểm giữa sinh học, y học, kỹ thuật, dữ liệu và kinh doanh./.
