Hải Phòng tạo đột phá từ nông nghiệp công nghệ cao
Từ những mô hình nhà màng, nhà lưới đến sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế, TP Hải Phòng đang từng bước thúc đẩy chuyển đổi nông nghiệp theo hướng hiện đại. Để phát huy hiệu quả đầu tư, thành phố cần gắn ứng dụng công nghệ với tổ chức sản xuất hàng hóa, liên kết tiêu thụ và nâng cao giá trị trên mỗi diện tích đất canh tác.
Công nghệ mở hướng nâng giá trị nông sản
Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết và kinh nghiệm truyền thống, nhiều hộ dân, hợp tác xã tại TP Hải Phòng đã đầu tư nhà màng, nhà lưới để chủ động hơn trong quá trình trồng trọt. Các loại cây trồng có giá trị kinh tế như dưa lưới, dưa chuột, nho, hoa và rau thủy canh đang được phát triển trong những mô hình này.
Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường, thành phố hiện có 36 xã, phường phát triển nhà màng, nhà lưới với tổng diện tích gần 140 ha. Xã Trường Tân dẫn đầu với hơn 97 ha; tiếp đến là phường Trần Hưng Đạo với 3,7 ha, phường Lưu Kiếm 3,5 ha và xã Thanh Miện 3,25 ha.

Việc mở rộng diện tích cho thấy phương thức sản xuất có kiểm soát môi trường đang được quan tâm. Hệ thống nhà màng, nhà lưới giúp hạn chế một phần tác động bất lợi của thời tiết, tạo điều kiện điều chỉnh nước tưới, theo dõi sinh trưởng và quản lý sâu bệnh. Khi kết hợp với quy trình canh tác phù hợp, người sản xuất có thêm cơ sở để nâng cao chất lượng nông sản.
Tuy nhiên, giá trị của nông nghiệp công nghệ cao không chỉ nằm ở công trình hay thiết bị. Hiệu quả còn phụ thuộc vào khả năng làm chủ kỹ thuật, lựa chọn cây trồng, kiểm soát chi phí và tổ chức đầu ra. Thực tế tại Hợp tác xã Tân Minh Đức, xã Trường Tân, cho thấy vai trò của việc kết hợp các yếu tố này.
Hợp tác xã hiện có gần 70 ha nhà màng, nhà lưới, sản xuất rau, quả theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và liên kết với doanh nghiệp tiêu thụ. Theo thông tin từ mô hình, lợi nhuận có thể đạt 1-1,2 tỷ đồng/ha/năm.
Ông Hoàng Anh Thư, Phó Giám đốc Hợp tác xã Tân Minh Đức, cho biết sản xuất trong nhà màng, nhà lưới giúp đơn vị chủ động hơn trong kiểm soát điều kiện canh tác, hạn chế ảnh hưởng của thời tiết và nâng cao chất lượng sản phẩm. Hợp tác xã đồng thời chú trọng tiết kiệm tài nguyên, trong đó có thu gom nước mưa vào bể chứa để phục vụ sản xuất.
Mô hình cho thấy đầu tư công nghệ có thể tạo hiệu quả cao hơn khi đi cùng tiêu chuẩn sản xuất và liên kết thị trường. Dù vậy, mức lợi nhuận trên không thể áp dụng chung cho mọi cơ sở bởi kết quả thực tế còn phụ thuộc vào cây trồng, chi phí đầu tư, quy trình kỹ thuật và giá bán.
Người nông dân phải làm chủ công nghệ
Chi phí đầu tư ban đầu là một trong những thách thức đối với các hộ muốn chuyển sang sản xuất trong nhà màng, nhà lưới. Ngoài vốn xây dựng, người trồng còn phải học cách vận hành hệ thống tưới, điều chỉnh điều kiện sinh trưởng và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình canh tác.
Ông Phạm Văn Quyện, ở xã Bình Giang, bắt đầu đầu tư theo hướng này vào năm 2021, sau khi tìm hiểu và tham quan một số mô hình. Với khoảng 700 triệu đồng, ông xây dựng 1.500 m² nhà màng, trồng dưa lưới, dưa chuột và lắp đặt hệ thống tưới nhỏ giọt.
Theo ông Quyện, thời gian đầu gặp nhiều khó khăn do vốn đầu tư lớn và kỹ thuật sản xuất còn mới. Người trồng phải tích lũy kinh nghiệm trong chăm sóc, điều tiết nước, kiểm soát nhiệt độ và phòng trừ sâu bệnh. Qua từng vụ, việc điều chỉnh quy trình giúp gia đình từng bước cải thiện sản xuất.
Từ diện tích ban đầu, mô hình đã được mở rộng lên khoảng 7.000 m², chủ yếu trồng dưa lưới và rau hữu cơ.

Sản xuất trong nhà màng giúp người dân chủ động hơn trong chăm sóc, kiểm soát sâu bệnh và điều kiện sinh trưởng của cây trồng.
Trường hợp này cho thấy chuyển đổi công nghệ là quá trình thay đổi phương thức sản xuất, chứ không đơn thuần là xây dựng nhà màng. Thiết bị chỉ phát huy tác dụng khi người vận hành hiểu đặc tính cây trồng, sử dụng đúng kỹ thuật và kiểm soát được chi phí.
Hiện nay, bên cạnh hệ thống tưới nhỏ giọt, một số mô hình còn ứng dụng cảm biến theo dõi độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng và camera giám sát. Các thiết bị hỗ trợ thu thập thông tin, giúp người trồng điều chỉnh quá trình chăm sóc và sử dụng tài nguyên hợp lý hơn.
Dù vậy, mức độ đầu tư cần phù hợp với quy mô và năng lực của từng cơ sở. Nếu thiết bị vượt quá khả năng vận hành hoặc không đem lại hiệu quả tương xứng, chi phí đầu tư có thể trở thành gánh nặng. Vì thế, lựa chọn công nghệ phù hợp và nâng cao kỹ năng cho người sản xuất cần được đặt ngang hàng với phát triển hạ tầng.
Chính sách hỗ trợ tạo động lực đầu tư
Để thúc đẩy sản xuất hàng hóa tập trung, Hải Phòng tiếp tục triển khai cơ chế hỗ trợ phát triển nhà màng, nhà lưới giai đoạn 2026-2030 theo Nghị quyết số 51 của HĐND thành phố về khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung.
Theo điều kiện được nêu trong tư liệu triển khai chính sách, công trình phải có diện tích tối thiểu 1.000 m², đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về kích thước, kết cấu và vật liệu. Vị trí xây dựng cần phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển của địa phương và không thuộc khu vực dự kiến chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang phi nông nghiệp trong vòng 3 năm kể từ thời điểm xây dựng.
Chủ đầu tư phải chuẩn bị hồ sơ xác định vị trí khu đất, phương án sản xuất được UBND cấp xã chấp thuận và bản thiết kế hoặc sơ họa thiết kế công trình theo quy định.
Các điều kiện này nhằm gắn hỗ trợ đầu tư với phương án sản xuất và định hướng sử dụng đất, hạn chế tình trạng xây dựng thiếu tính toán hoặc không khai thác hiệu quả sau đầu tư.
Tuy nhiên, hỗ trợ xây dựng mới chỉ giải quyết một phần nhu cầu vốn. Để mô hình hoạt động bền vững, người dân còn cần nguồn lực cho giống, vật tư, nhân công, vận hành thiết bị và tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, quá trình thực hiện chính sách cần đi cùng hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ hoàn thiện phương án sản xuất và thông tin thị trường.
Theo bà Lương Thị Kiểm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, ứng dụng công nghệ cao đang từng bước thay đổi phương thức sản xuất, giúp người dân kiểm soát tốt hơn nước tưới, nhiệt độ và sâu bệnh. Bà cũng nhấn mạnh số hóa sản xuất là yêu cầu cần thiết để nâng sức cạnh tranh của nông sản, mở rộng thị trường tiêu thụ.
Trong giai đoạn 2026-2030, định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao của thành phố đặt ra yêu cầu chuyển từ hỗ trợ đầu tư riêng lẻ sang nâng cao hiệu quả toàn bộ quá trình sản xuất. Chính sách cần tạo điều kiện để người dân tiếp cận kỹ thuật, nâng cao năng lực quản lý và kết nối với các đơn vị thu mua.
Liên kết thị trường để phát triển bền vững
Một mô hình nhà màng có thể tạo ra sản phẩm chất lượng, nhưng hiệu quả kinh tế cuối cùng vẫn phụ thuộc vào khả năng tiêu thụ. Nếu sản xuất không gắn với nhu cầu thị trường, tình trạng dư cung, giảm giá hoặc chi phí bảo quản tăng cao vẫn có thể xảy ra.
Kinh nghiệm tại Hợp tác xã Tân Minh Đức cho thấy việc áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP song song với liên kết doanh nghiệp là hướng tổ chức sản xuất đáng chú ý. Khi quy trình canh tác được chuẩn hóa và đầu ra được tính toán, người sản xuất có thêm điều kiện duy trì chất lượng và nâng cao khả năng cạnh tranh.
Đối với các hộ quy mô nhỏ, hợp tác xã có thể đóng vai trò kết nối, hỗ trợ chia sẻ kinh nghiệm, thống nhất quy trình và tổ chức tiêu thụ. Việc hình thành vùng sản xuất tập trung cũng tạo thuận lợi cho kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của các kênh phân phối.
Cùng với đó, số hóa cần được triển khai theo hướng thiết thực, bắt đầu từ ghi chép nhật ký canh tác, quản lý vật tư, theo dõi chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Các thiết bị cảm biến hay phần mềm quản lý chỉ nên được đầu tư khi phù hợp với nhu cầu và khả năng vận hành của cơ sở sản xuất.
Yếu tố môi trường cũng cần được quan tâm trong quá trình mở rộng mô hình. Tiết kiệm nước, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật theo quy trình, thu gom chất thải và xử lý vật liệu nhà màng sau sử dụng là những yêu cầu cần được thực hiện đồng bộ. Sản xuất công nghệ cao chỉ thực sự bền vững khi hiệu quả kinh tế đi cùng quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Về phía cơ quan quản lý, việc theo dõi hiệu quả sau hỗ trợ, đánh giá khả năng vận hành của công trình và nhân rộng những mô hình phù hợp sẽ giúp nguồn lực chính sách được sử dụng hiệu quả hơn. Người dân cũng cần được tiếp cận thông tin đầy đủ trước khi đầu tư, nhất là về chi phí, yêu cầu kỹ thuật và triển vọng tiêu thụ sản phẩm.
Gần 140 ha nhà màng, nhà lưới tại 36 xã, phường là nền tảng để Hải Phòng tiếp tục phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, bước đột phá không chỉ được đo bằng diện tích mở rộng mà còn bằng năng suất, chất lượng, lợi nhuận thực tế và khả năng duy trì thị trường.
Khi chính sách hỗ trợ được kết nối với chuyển giao kỹ thuật, tổ chức sản xuất hàng hóa và liên kết tiêu thụ, công nghệ cao sẽ có cơ hội phát huy đầy đủ giá trị. Đây cũng là hướng đi để nâng hiệu quả sử dụng đất, cải thiện thu nhập cho người nông dân và xây dựng nền nông nghiệp Hải Phòng phát triển theo hướng hiệu quả, có trách nhiệm với môi trường và bền vững hơn./.
