Dự án cấp giống ngựa bạch: Hướng giảm nghèo bền vững ở vùng cao Na Rì
Từ những con ngựa bạch giống được hỗ trợ thông qua các dự án giảm nghèo, nhiều hộ dân ở xã Na Rì, tỉnh Thái Nguyên đã có thêm tư liệu sản xuất, từng bước phát triển đàn vật nuôi và tạo nguồn thu nhập cho gia đình. Thực tế tại địa phương cho thấy, khi chính sách hỗ trợ được gắn với điều kiện sản xuất, kinh nghiệm của người dân và liên kết phát triển sản xuất, một con giống phù hợp có thể trở thành điểm khởi đầu cho sinh kế lâu dài của hộ nghèo, cận nghèo.
Tạo sinh kế từ vật nuôi phù hợp
Là xã miền núi phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, sau sắp xếp đơn vị hành chính, Na Rì có nhiều thôn đặc biệt khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao. Trong điều kiện đó, tạo sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân không chỉ là câu chuyện hỗ trợ nguồn lực trước mắt mà quan trọng hơn là lựa chọn được mô hình sản xuất phù hợp để các hộ có khả năng duy trì và phát triển sau khi kết thúc hỗ trợ.
Những dự án hỗ trợ sản xuất được triển khai tại Na Rì thời gian qua đang cho thấy hiệu quả theo hướng này. Trong số các mô hình, chăn nuôi ngựa, đặc biệt là ngựa bạch sinh sản, đang trở thành một sinh kế đáng chú ý tại một số thôn trên địa bàn.
Theo UBND xã Na Rì, trong năm 2025, xã có 4 dự án được phê duyệt, giải ngân hỗ trợ cây, con giống cho người dân, gồm 2 dự án chu kỳ 2 và 2 dự án cộng đồng. Riêng dự án hỗ trợ ngựa bạch đã cấp 61 con cho 48 hộ. Sau khi được bàn giao, đàn ngựa bạch được người dân chăm sóc, duy trì và tiếp tục phát triển.
Điều đáng chú ý là mô hình không bắt đầu từ một loại vật nuôi hoàn toàn xa lạ với người dân địa phương. Chăn nuôi ngựa bạch vốn đã hiện diện tại khu vực Na Rì từ nhiều năm trước. Kinh nghiệm sản xuất của người dân cùng điều kiện tự nhiên và nguồn thức ăn tại chỗ là những yếu tố thuận lợi để các hộ tiếp nhận con giống và duy trì chăn nuôi.
Thực tế tại thôn Phiêng Cuôn cho thấy mức độ phát triển khá rõ của loại vật nuôi này. Tháng 6/2026, toàn thôn có 30/35 hộ nuôi ngựa bạch, tổng đàn trên 100 con. Khu vực có những bãi chăn thả tự nhiên trên các sườn đồi, tạo điều kiện cho người dân phát triển chăn nuôi đại gia súc.
Như vậy, việc lựa chọn ngựa bạch làm đối tượng hỗ trợ không tách rời thực tiễn sản xuất tại địa phương. Đây là yếu tố có ý nghĩa đối với một dự án giảm nghèo: nguồn lực hỗ trợ chỉ thực sự phát huy tác dụng khi người dân có điều kiện tiếp nhận, duy trì và biến nguồn lực ban đầu thành tài sản sản xuất của hộ gia đình.
Từ một con giống đến tài sản của hộ gia đình
Ở Phiêng Cuôn, sự thay đổi có thể nhìn thấy từ chính những hộ được hưởng lợi. Bà Hoàng Thị Sìn, Trưởng thôn Phiêng Cuôn cho biết, các dự án phát triển sản xuất, chăn nuôi ngựa bạch triển khai năm 2025 và những năm trước đã hỗ trợ con giống cho người dân. Sau khi tiếp nhận, ngựa bạch sinh trưởng, phát triển tốt; từ đó số lượng ngựa bạch trong thôn ngày càng nhiều hơn.
Gia đình bà Sìn cũng từng được nhận ngựa bạch giống. Theo bà, con giống được hỗ trợ đã tạo thêm nguồn lực để gia đình cũng như một số hộ trong thôn phát triển chăn nuôi. Khi thấy ngựa bạch thích nghi và phát triển, những hộ khác cũng bắt đầu làm theo. Có hộ ban đầu nhận một hoặc hai con, sau một thời gian đã phát triển thành đàn 4-5 con. Theo bà Sìn, trong thôn đã có những hộ thoát nghèo, cận nghèo nhờ chăn nuôi ngựa bạch sinh sản, trong đó có hộ ông Trần Văn Hùng, ông Lý Văn Bạo.

Trường hợp gia đình ông Trương Văn Soòng ở Phiêng Cuôn cho thấy rõ hơn cách một con giống hỗ trợ có thể trở thành nguồn tài sản sinh kế. Năm 2024, khi gia đình còn thuộc diện hộ nghèo, ông Soòng được hỗ trợ một con ngựa bạch giống. Từ con ngựa bạch ban đầu, nay, gia đình đã có thêm ngựa bạch con. Ông cho biết giá ngựa bạch hiện không còn ở mức tốt như thời điểm trước, nhưng so với một số vật nuôi khác, ngựa bạch vẫn đem lại giá trị kinh tế cao. Nhờ đó, gia đình ông đã thoát nghèo.
Điều ông Soòng mong muốn là tiếp tục có những dự án phù hợp để người dân vùng khó khăn có thêm nguồn thu từ chăn nuôi ngựa bạch sinh sản. Với ông, hỗ trợ một con giống không đơn thuần là nhận một tài sản tại một thời điểm, mà quan trọng hơn là có được một nguồn lực để gia đình tổ chức sản xuất và phát triển kinh tế.
Từ 2 con ban đầu, gia đình bà Hoàng Thị Sìn đã phát triển đàn lên 7 con. Những con số cụ thể ở từng hộ cho thấy, khả năng nhân đàn là một trong những đặc điểm giúp mô hình chăn nuôi sinh sản tạo tài sản tích lũy cho hộ dân.
Từ những trường hợp này có thể thấy hiệu quả của hỗ trợ sinh kế không nên chỉ được nhìn ở số con giống được bàn giao. Quan trọng hơn là khả năng duy trì con giống, sinh sản, phát triển đàn và tạo sản phẩm có thể bán ra thị trường. Khi quá trình đó diễn ra, nguồn lực hỗ trợ ban đầu mới từng bước chuyển thành năng lực sản xuất của hộ dân được nhận hỗ trợ.
Chăn nuôi chỉ có thể trở thành sinh kế bền vững khi sản phẩm tạo ra có khả năng tiêu thụ. Với ngựa bạch, đại diện UBND xã Na Rì cho rằng giá trị kinh tế là một trong những lý do khiến người dân quan tâm mở rộng đàn. Ghi nhận tại Phiêng Cuôn, ngựa bạch con từ 5 tháng tuổi có giá bán 30-50 triệu đồng/con; ngựa bạch trưởng thành chất lượng tốt có thể đạt 80-100 triệu đồng/con.
Thúc đẩy liên kết sản xuất
Một trong những vấn đề thường đặt ra đối với chính sách hỗ trợ sinh kế là làm thế nào để nguồn lực của Nhà nước tiếp tục phát huy hiệu quả sau thời gian dự án. Thực tế chăn nuôi ngựa bạch tại Na Rì gợi mở rằng câu trả lời không chỉ nằm ở số lượng con giống được hỗ trợ, mà còn ở cách tổ chức sản xuất sau hỗ trợ.
Trong mô hình đang triển khai, có ba chủ thể cùng tham gia: người dân trực tiếp chăn nuôi; HTX giữ vai trò chủ trì liên kết ở các dự án liên kết theo chuỗi giá trị; chính quyền và cơ quan chuyên môn thực hiện quản lý, kiểm tra và hỗ trợ kỹ thuật. Cách thức này tạo nên một cấu trúc khác với hỗ trợ đơn lẻ cho từng hộ.
Như vậy, quan hệ giữa các bên không chỉ hình thành tại thời điểm bàn giao con giống mà tiếp tục trong quá trình thực hiện dự án. Đây là điều kiện cần thiết để những hộ nghèo, cận nghèo - vốn hạn chế về nguồn lực - có thêm chỗ dựa khi gặp vấn đề về kỹ thuật, chăm sóc hoặc quản lý đàn vật nuôi.
Ở góc độ người dân, điều quan trọng nhất vẫn là khả năng biến nguồn lực hỗ trợ thành sinh kế thực sự. Những trường hợp đàn ngựa từ một vài con ban đầu phát triển thành nhiều con, có ngựa bạch con để bán, hoặc người dân tự đầu tư thêm vào đàn vật nuôi cho thấy tác động của dự án có thể vượt ra ngoài giá trị của con giống ban đầu.
Phó Chủ tịch UBND xã Na Rì Bùi Thị Thu đánh giá dự án đã tạo sinh kế cho người dân, hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo tăng thu nhập và thoát nghèo. Từ những mô hình được triển khai, một số hộ khác cũng mạnh dạn đầu tư làm theo, đặc biệt với mô hình chăn nuôi ngựa bạch sinh sản. Theo lãnh đạo xã, đàn ngựa bạch trên địa bàn có xu hướng tăng qua các năm, đồng thời tỷ lệ hộ nghèo giảm dần.
Để sinh kế tiếp tục phát huy hiệu quả
Từ thực tế Na Rì có thể thấy, một dự án hỗ trợ sản xuất phát huy hiệu quả khi con giống được đặt trong cả một quá trình: lựa chọn đối tượng phù hợp, bàn giao cho đúng hộ, hướng dẫn chăm sóc, kiểm soát dịch bệnh, duy trì đàn, phát triển sinh sản và từng bước tạo sản phẩm.
Bên cạnh đó là vấn đề đầu ra. Các mức giá khác nhau được ghi nhận tại cùng thời điểm tháng 6/2026 cho thấy, thị trường cần được theo dõi thay vì mặc định giá ngựa bạch luôn ở mức cao. Việc phát triển đàn vì thế cần đi cùng thông tin thị trường và liên kết tiêu thụ, tránh tình trạng mở rộng chăn nuôi chỉ dựa trên mức giá tại một thời điểm.
Với hộ nghèo, một con vật nuôi có giá trị tương đối lớn, nó vừa là tư liệu sản xuất, vừa là tài sản của gia đình. Hiệu quả của chính sách vì thế có thể được nhìn nhận qua khả năng bảo toàn và gia tăng tài sản đó. Từ một con ngựa giống phát triển thêm ngựa con, từ một vài con hình thành đàn và từ sản phẩm sinh sản tạo ra nguồn thu là quá trình tích lũy từng bước của hộ dân.
Trường hợp ông Trương Văn Soòng là một ví dụ. Gia đình được hỗ trợ một con ngựa bạch khi còn là hộ nghèo; sau đó ngựa sinh sản thêm hai con và gia đình đã vươn lên thành hộ thoát nghèo. Đây chưa phải là điểm kết thúc của quá trình giảm nghèo bền vững, nhưng cho thấy nguồn lực hỗ trợ đã được duy trì và gia tăng trong chính hộ thụ hưởng.
Từ vùng cao Na Rì, câu chuyện những con ngựa bạch vì thế không chỉ là câu chuyện cấp con giống cho hộ nghèo. Giá trị đáng chú ý hơn nằm ở quá trình chuyển một khoản hỗ trợ thành tư liệu sản xuất, từ tư liệu sản xuất thành đàn vật nuôi và từ đàn vật nuôi tạo thêm nguồn thu cho gia đình.
Kết quả bước đầu tại địa phương cho thấy, khi lựa chọn đúng đối tượng sản xuất phù hợp với điều kiện địa phương, đồng thời gắn hỗ trợ với kỹ thuật, trách nhiệm của hộ dân và liên kết sản xuất, chính sách giảm nghèo có thêm cơ hội tạo ra sinh kế có khả năng duy trì. Với Na Rì, những đàn ngựa bạch đang tiếp tục được phát triển chính là một minh chứng cụ thể cho cách tiếp cận đó.
