Đột phá chuyển đổi số trong công tác hậu cần, kỹ thuật Quân khu 3
Thúc đẩy chuyển đổi số trong công tác hậu cần, kỹ thuật chính là tạo động lực mới để nâng cao chất lượng bảo đảm cho mọi nhiệm vụ của lực lượng vũ trang Quân khu 3. Chuyển đổi số vì thế không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà là bước đột phá chiến lược, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang Quân khu 3 trong giai đoạn mới.
Yêu cầu tất yếu từ thực tiễn nhiệm vụ
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, chuyển đổi số (CĐS) không còn là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với mọi lĩnh vực, nhất là trong quân sự, quốc phòng.
Đối với lực lượng vũ trang Quân khu 3 - địa bàn chiến lược trọng yếu ở vùng đồng bằng, duyên hải Bắc Bộ - thúc đẩy CĐS trong công tác hậu cần, kỹ thuật chính là giải pháp quan trọng tạo bước đột phá nâng cao chất lượng bảo đảm, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang tinh, gọn, mạnh trong tình hình mới.
Công tác hậu cần, kỹ thuật luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng, trực tiếp bảo đảm cho nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn và xử trí các tình huống quốc phòng trên địa bàn Quân khu 3.
Thực tiễn cho thấy, trước yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao, phương thức quản lý truyền thống bằng hồ sơ giấy, báo cáo thủ công, tổng hợp số liệu phân tán đã bộc lộ nhiều hạn chế. Khi lực lượng phân bố rộng, hệ thống kho tàng, trạm xưởng, doanh trại, phương tiện vận tải và trang bị kỹ thuật ngày càng lớn, nếu không có nền tảng số đủ mạnh sẽ rất khó bảo đảm tính chính xác, kịp thời và đồng bộ trong chỉ huy, điều hành.
Chính vì vậy, CĐS trong công tác hậu cần, kỹ thuật không đơn thuần là ứng dụng công nghệ, mà là sự đổi mới toàn diện tư duy lãnh đạo, phương thức quản lý và năng lực tổ chức thực hiện, nhằm đưa mọi hoạt động bảo đảm đi vào nền nếp khoa học, hiện đại và hiệu quả hơn.
Bắt đầu từ đổi mới nhận thức và quyết tâm hành động
Cục Hậu cần - Kỹ thuật, Quân khu 3 xác định muốn CĐS thành công, trước hết phải tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức trong cấp ủy, chỉ huy và đội ngũ cán bộ chuyên môn. Điều quan trọng nhất là phải xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, lâu dài, gắn chặt với mục tiêu xây dựng Quân khu 3 hiện đại về công tác hậu cần, kỹ thuật.
Theo đó, mỗi cán bộ, nhân viên cần nhận thức rõ rằng dữ liệu số, phần mềm quản lý, điều hành trực tuyến hay kho thông minh không phải yếu tố phụ trợ, mà chính là công cụ nâng cao chất lượng hoàn thành nhiệm vụ. Khi tư duy đã thông, hành động mới quyết liệt; khi người chỉ huy thực sự coi dữ liệu số là “mệnh lệnh thời gian thực”, hiệu quả công tác mới có bước chuyển thực chất.
Đầu tư hạ tầng số đồng bộ, lấy dữ liệu làm trung tâm
Giải pháp mang tính nền tảng để thúc đẩy CĐS tại Quân khu 3 được xác định là xây dựng hạ tầng số đồng bộ từ cơ quan Quân khu đến đơn vị cơ sở. Hệ thống mạng quân sự, trung tâm dữ liệu (TTDL), nền tảng điều hành số, kho dữ liệu vật chất - trang bị kỹ thuật phải được kết nối thông suốt, bảo đảm liên thông nhiều cấp. Mọi thông tin về quân nhu, xăng dầu, quân y, doanh trại, vận tải, bảo quản, sửa chữa vũ khí trang bị cần được số hóa và cập nhật theo thời gian thực.

Khi dữ liệu được chuẩn hóa, người chỉ huy có thể nắm chắc số lượng vật chất, tình trạng kỹ thuật, mức dự trữ, tiến độ sửa chữa và khả năng cơ động chỉ bằng một hệ thống điều hành tập trung. Đây chính là bước tiến từ quản lý thủ công sang chỉ huy số, bảo đảm số, quyết định số.
Khi dữ liệu chính xác hơn, điều hành nhanh hơn, dự báo tốt hơn và nguồn lực được tối ưu hơn, hiệu quả bảo đảm hậu cần, kỹ thuật sẽ được nâng lên rõ rệt. Xa hơn, đây còn là nền tảng quan trọng để xây dựng Cơ quan Hậu cần Kỹ thuật chính quy, tinh gọn, hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao.
Ứng dụng công nghệ thông minh để tạo bước đột phá
Điểm mấu chốt của CĐS không chỉ nằm ở phần mềm quản lý, mà phải tiến tới ứng dụng công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và tự động hóa.
Trong quản lý kho tàng, có thể sử dụng cảm biến nhiệt độ, độ ẩm, cảnh báo cháy nổ, mã QR hoặc RFID để theo dõi vật tư, trang bị. Trong ngành kỹ thuật, mỗi phương tiện, khí tài cần được xây dựng hồ sơ số theo vòng đời khai thác, giúp theo dõi số giờ hoạt động, lịch sử sửa chữa, mức hao mòn và dự báo niên hạn.
Cách làm này giúp chuyển mạnh từ “sửa chữa khi hỏng” sang bảo dưỡng dự báo, chủ động phòng ngừa, vừa tiết kiệm ngân sách vừa kéo dài tuổi thọ trang bị.
Xây dựng đội ngũ cán bộ làm chủ công nghệ
Máy móc hiện đại đến đâu cũng không thể phát huy hiệu quả nếu thiếu con người làm chủ. Bởi vậy, Quân khu 3 cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần, kỹ thuật có tư duy số, kỹ năng khai thác dữ liệu, sử dụng thành thạo các nền tảng điều hành, phần mềm quản lý và công nghệ bảo mật.

Cùng với đào tạo tập trung, cần đẩy mạnh phong trào tự học, tự nghiên cứu, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, xây dựng các tổ công nghệ nòng cốt ở kho, xưởng, bệnh viện quân y, đơn vị vận tải. Đây sẽ là lực lượng trực tiếp tạo ra những mô hình mới, cách làm hay, góp phần nhân rộng hiệu quả chuyển đổi số trong toàn Quân khu.
Giữ vững an toàn thông tin - yếu tố sống còn
Đối với lĩnh vực quân sự, dữ liệu hậu cần, kỹ thuật là nguồn thông tin đặc biệt quan trọng, liên quan trực tiếp đến sức mạnh chiến đấu của lực lượng.
Vì vậy, mọi giải pháp CĐS phải đi liền với bảo đảm an ninh mạng, phân tầng bảo mật, kiểm soát truy cập chặt chẽ, sao lưu dữ liệu nhiều lớp và chủ động phương án ứng phó sự cố. Không để xảy ra lộ lọt dữ liệu, không để bị động trước các nguy cơ tấn công mạng - đó là yêu cầu mang tính nguyên tắc để chuyển đổi số phát triển đúng hướng, an toàn và bền vững.
Từ những yêu cầu Cục Hậu cần - Kỹ thuật, Quân khu 3 đã đề ra Lộ trình triển khai CĐS giai đoạn 2026-2030 theo 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1 (2026-2027): Chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, số hóa hồ sơ trang bị kỹ thuật, kho tàng, vật chất.
Giai đoạn 2 (2028-2029): Kết nối dữ liệu liên thông toàn Quân khu, xây dựng trung tâm điều hành số hậu cần - kỹ thuật.
Giai đoạn 3 (2030): Ứng dụng AI dự báo hao mòn trang bị, tối ưu dự trữ vật chất và hỗ trợ ra quyết định chỉ huy./.
