Bản A

Doanh nghiệp khởi nguồn từ kết quả nghiên cứu và vai trò trong thương mại hóa tri thức tại Việt Nam

Nguyễn Văn Trúc - Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ 21/04/2026 13:31

Trong bối cảnh kinh tế tri thức, khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thị trường trở thành thước đo năng lực khoa học và công nghệ (KH&CN) của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, tại Việt Nam, khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng vẫn còn lớn. Doanh nghiệp khởi nguồn được xem là một giải pháp then chốt để thu hẹp khoảng cách này.

Doanh nghiệp khởi nguồn trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Doanh nghiệp khởi nguồn từ kết quả nghiên cứu (thường gọi là spin-off hoặc research-based startup) là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở khai thác, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Doanh nghiệp này ngày càng được xem là cầu nối quan trọng giữa khu vực nghiên cứu và thị trường.

Các doanh nghiệp này hình thành trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ (TSTT), quy trình công nghệ hoặc bí quyết kỹ thuật do các viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học phát triển.

Khác với mô hình nghiên cứu truyền thống vốn dừng lại ở công bố học thuật hoặc nghiệm thu nhiệm vụ, doanh nghiệp khởi nguồn tạo ra cơ chế chuyển hóa trực tiếp các kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, dịch vụ hoặc giải pháp công nghệ có khả năng thương mại hóa.

438-202604200925001.jpg
Hội thảo quốc tế về thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (HUTECH). Ảnh: ST.

Tại Việt Nam, mặc dù Nhà nước đã gia tăng đầu tư nguồn lực đáng kể cho hoạt động nghiên cứu và phát triển thông qua các chương trình KH&CN cấp quốc gia, bộ, ngành và địa phương nhưng hiệu quả thương mại hóa vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Số lượng công bố khoa học quốc tế, đơn đăng ký sáng chế và kết quả nghiên cứu tăng lên qua các năm, cho thấy năng lực nghiên cứu đang được cải thiện.

Tuy nhiên, phần lớn các kết quả nghiên cứu vẫn chỉ dừng lại ở giai đoạn thử nghiệm hoặc nguyên mẫu trong phòng thí nghiệm mà chưa được phát triển thành sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn - thường được gọi là “thung lũng chết công nghệ” vẫn là điểm nghẽn lớn. Khoảng cách này cho thấy hệ thống còn thiếu các điều kiện trung gian để đưa tri thức ra thị trường.

438-202604200925002.jpg
Diễn đàn Hoàn thiện chính sách thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo - động lực phát triển kinh tế Nghệ An và khu vực Bắc Trung Bộ. Ảnh: ST.

Kinh nghiệm quốc tế và những điều kiện nền tảng cho doanh nghiệp khởi nguồn

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, sự phát triển của doanh nghiệp khởi nguồn không phải là kết quả của các nỗ lực đơn lẻ, mà là sản phẩm của một hệ sinh thái được thiết kế đồng bộ về thể chế, tài chính và tổ chức.

Tại Hoa Kỳ, việc ban hành Đạo luật Bayh-Dole năm 1980 đã tạo ra bước ngoặt thể chế khi chuyển giao quyền sở hữu và khai thác tài sản trí tuệ từ Nhà nước sang các tổ chức nghiên cứu. Cơ chế này đã thiết lập động lực mạnh mẽ cho hoạt động chuyển giao công nghệ và hình thành doanh nghiệp spin-off, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của các cụm đổi mới sáng tạo và nền kinh tế công nghệ cao.

Tại châu Âu, cách tiếp cận mang tính hệ thống được thể hiện thông qua việc tích hợp mục tiêu thương mại hóa vào các chương trình tài trợ nghiên cứu, đồng thời phát triển các văn phòng chuyển giao công nghệ với chức năng chuyên nghiệp hóa hoạt động định giá, quản lý tài sản trí tuệ và kết nối thị trường. Vai trò của các tổ chức trung gian trong bối cảnh này là yếu tố then chốt nhằm giảm thiểu rủi ro và gia tăng xác suất thành công của các dự án công nghệ.

Trong khi đó, một số quốc gia châu Á như Hàn Quốc và Nhật Bản đã thiết lập hệ thống đánh giá công nghệ quốc gia dựa trên các thang đo mức độ sẵn sàng, qua đó chuẩn hóa quy trình đánh giá và giảm bất cân xứng thông tin giữa các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Có thể thấy ba yếu tố nền tảng quyết định sự phát triển của doanh nghiệp khởi nguồn là:

Thứ nhất, cơ chế sở hữu và khai thác TSTT rõ ràng, tạo động lực cho cơ sở nghiên cứu chủ động chuyển giao công nghệ.

Thứ hai, hệ thống đánh giá mức độ sẵn sàng công nghệ, giúp xác định rủi ro và khả năng thương mại hóa theo từng giai đoạn của vòng đời công nghệ.

Thứ ba, sự hiện diện của các tổ chức trung gian chuyên nghiệp hỗ trợ quá trình định giá, tư vấn kinh doanh và kết nối nguồn vốn.

Những kinh nghiệm này cho thấy, doanh nghiệp khởi nguồn không hình thành một cách tự phát mà là kết quả của quá trình thiết kế chính sách dài hạn và quản trị hiệu quả vòng đời công nghệ. Đây là cơ sở quan trọng để đối chiếu với bối cảnh Việt Nam và nhận diện những điểm nghẽn đang tồn tại trong hệ sinh thái thương mại hóa công nghệ.

Thực trạng và các điểm nghẽn thể chế cần tháo gỡ

Mặc dù hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định, quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp khởi nguồn vẫn đối mặt với nhiều rào cản mang tính hệ thống.

Một, cơ chế định giá và khai thác TSTT hình thành từ ngân sách nhà nước còn thiếu linh hoạt và chưa phù hợp với bản chất thị trường của công nghệ. Kết quả nghiên cứu thường được xem là tài sản công, do đó việc chuyển giao hoặc góp vốn bằng sáng chế, quy trình công nghệ phải tuân thủ các thủ tục quản lý tương đối phức tạp.

Trong khi đó, giá trị thực của công nghệ phụ thuộc vào tiềm năng thị trường trong tương lai thay vì chi phí nghiên cứu đã đầu tư. Sự thiếu hụt phương pháp định giá dựa trên khả năng thương mại hóa khiến quá trình đàm phán giữa cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp kéo dài, làm giảm tính kịp thời của cơ hội thị trường.

438-202604200925003.jpg
Hội thảo về thương mại hóa kết quả nghiên cứu giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp - tại VINIF. Ảnh: ST.

Hai là, khoảng trống tài chính trong giai đoạn phát triển ban đầu của công nghệ là thách thức đáng kể. Trong khi nguồn lực công tập trung vào nghiên cứu cơ bản hoặc phát triển nguyên lý công nghệ, thì khu vực tư nhân lại có xu hướng đầu tư vào các dự án đã chứng minh được tính khả thi, dẫn đến sự gián đoạn trong chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo.

Ba là, chưa thiết lập được một hệ thống đánh giá mức độ sẵn sàng công nghệ và thương mại hóa theo chuẩn quốc tế. Cơ chế nghiệm thu nhiệm vụ khoa học hiện nay chủ yếu đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu nghiên cứu thay vì khả năng ứng dụng thực tiễn hoặc tiềm năng thị trường. Việc thiếu các khung đánh giá như vậy khiến quá trình chuyển giao công nghệ thiếu một ngôn ngữ chung giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà đầu tư. Hệ quả là gia tăng bất cân xứng thông tin và hạn chế sự tham gia của khu vực tư nhân vào thương mại hóa công nghệ.

Bên cạnh đó, sự thiếu hụt các tổ chức trung gian chuyên nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cũng làm giảm hiệu quả hỗ trợ quá trình thương mại hóa. Các nhóm nghiên cứu thường phải đồng thời đảm nhiệm vai trò phát triển công nghệ, xây dựng mô hình kinh doanh và tiếp cận thị trường trong khi chưa được trang bị đầy đủ năng lực quản trị đổi mới sáng tạo, làm gia tăng rủi ro thất bại của doanh nghiệp khởi nguồn.

Những điểm nghẽn nêu trên cho thấy, thách thức cốt lõi không nằm ở việc thiếu kết quả nghiên cứu, mà ở sự thiếu kết nối hiệu quả giữa các giai đoạn trong chuỗi đổi mới sáng tạo. Do đó, định hướng chính sách trong giai đoạn tới cần chuyển từ tư duy tài trợ nghiên cứu sang quản trị toàn bộ vòng đời công nghệ. Trọng tâm bao gồm xây dựng hệ thống đánh giá mức độ sẵn sàng công nghệ quốc gia, phát triển quỹ đầu tư công nghệ giai đoạn sớm nhằm chia sẻ rủi ro trong giai đoạn chuyển tiếp, và tăng cường vai trò kiến tạo của Nhà nước trong việc hoàn thiện khung thể chế và thiết lập môi trường thuận lợi cho thương mại hóa.

Vai trò kiến tạo của Nhà nước không chỉ dừng ở việc ban hành chính sách mà còn thể hiện ở việc xây dựng hệ thống đánh giá công nghệ quốc gia, phát triển tổ chức trung gian và thiết kế công cụ tài chính phù hợp theo từng giai đoạn của vòng đời công nghệ. Khi các công cụ chính sách được vận hành đồng bộ, doanh nghiệp khởi nguồn có thể trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Tóm lại, phát triển doanh nghiệp khởi nguồn từ kết quả nghiên cứu là giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho KH&CN tại Việt Nam. Việc thiết lập hệ thống đánh giá công nghệ quốc gia, hoàn thiện cơ chế tài chính chuyển tiếp và củng cố vai trò kiến tạo của Nhà nước sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường, thúc đẩy quá trình chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn./.

Nổi bật
    Mới nhất
    Doanh nghiệp khởi nguồn từ kết quả nghiên cứu và vai trò trong thương mại hóa tri thức tại Việt Nam