Công tác dân tộc giai đoạn 2021-2026: Những chuyển biến lớn và bài toán phát triển bền vững
Sau 5 năm triển khai Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có những chuyển biến tích cực về kinh tế - xã hội, hạ tầng, giáo dục, y tế, văn hóa và tiếp cận khoa học, công nghệ. Tuy nhiên, khoảng cách phát triển, chất lượng hạ tầng, sinh kế, nguồn nhân lực và một số chỉ tiêu an sinh vẫn đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới chính sách trong giai đoạn 2026-2030.
Những chuyển biến quan trọng sau 5 năm
Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Chính phủ ban hành tại Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/01/2022. Để cụ thể hóa Chiến lược, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1657/QĐ-TTg ngày 30/12/2022 về Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Việc triển khai Chiến lược diễn ra trong bối cảnh có nhiều yếu tố bất lợi, từ tác động của dịch Covid-19 trong những năm đầu giai đoạn 2021-2025, thiên tai, biến đổi khí hậu đến những biến động của kinh tế và tình hình quốc tế. Đặc biệt, năm 2025 có nhiều thay đổi về tổ chức hành chính thông qua việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, tác động trực tiếp đến tổ chức bộ máy, quản lý và triển khai chính sách dân tộc tại cơ sở.
Trong bối cảnh đó, kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) vẫn có những chuyển biến tích cực. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào từng bước được cải thiện; hạ tầng thiết yếu như giao thông, điện, trường học, trạm y tế được đầu tư, nâng cấp; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là tại khu vực biên giới, cơ bản được giữ vững.
Một trong những kết quả đáng chú ý là hệ thống chính sách, pháp luật phục vụ phát triển vùng DTTS&MN tiếp tục được hoàn thiện. Theo Báo cáo sơ kết tình hình, kết quả thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo (Báo cáo), tính đến thời điểm báo cáo, trong số 74 văn bản quy định cơ chế, hướng dẫn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN, có 2 nghị quyết của Quốc hội, 4 nghị định của Chính phủ, 17 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 52 văn bản thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành, tạo khung khổ pháp lý cho quá trình tổ chức thực hiện.

Cùng với hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác dân tộc tiếp tục được củng cố, kiện toàn. Sau quá trình sắp xếp tổ chức năm 2025, các địa phương thực hiện hợp nhất tổ chức bộ máy để thành lập Sở Dân tộc và Tôn giáo; tại những tỉnh không đủ điều kiện thành lập Sở Dân tộc và Tôn giáo, chức năng quản lý nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo được giao cho Sở Nội vụ; ở cấp xã, nhiệm vụ công tác dân tộc được giao cho công chức phòng Văn hóa - Xã hội kiêm nhiệm.
Hạ tầng và nguồn nhân lực từng bước được cải thiện
Phát triển hạ tầng thiết yếu là một trong những nhiệm vụ đột phá của Chiến lược. Nhiều nguồn lực đã được huy động để đầu tư hệ thống giao thông, tạo điều kiện kết nối vùng DTTS&MN với các trung tâm kinh tế và thị trường.
Theo Báo cáo, hệ thống giao thông nông thôn cả nước, bao gồm từ đường huyện trở xuống, có tổng chiều dài 519.086 km, chiếm 85,22% chiều dài hệ thống đường địa phương; trong đó, từ đường xã trở xuống dài 463.456 km, chiếm 75,93% toàn bộ chiều dài hệ thống đường địa phương. Thông qua Đề án xây dựng 186 cầu treo dân sinh bảo đảm an toàn giao thông với tổng mức đầu tư 1.005 tỷ đồng, 186 cầu tại 28 tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng. Chương trình “Nhịp cầu yêu thương” huy động được 253 tỷ đồng, xây dựng 44 cầu giao thông nông thôn. Đáng chú ý, Dự án “Xây dựng cầu dân sinh và quản lý tài sản đường địa phương” (LRAMP) có tổng mức đầu tư 9.469,77 tỷ đồng, trong đó vốn vay Ngân hàng Thế giới là 8.921,68 tỷ đồng, vốn đối ứng là 548,09 tỷ đồng. Dự án đầu tư xây dựng 243 tuyến với tổng chiều dài 1.238 km trên phạm vi 14 tỉnh và xây dựng 2.457 cầu dân sinh.
Công tác phát triển nguồn nhân lực cũng được chú trọng, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số. Theo số liệu tổng hợp tại Công văn số 3544/BNV-CCVC ngày 10/7/2023 của Bộ Nội vụ, tính đến ngày 31/5/2023, cả nước có 260.209 cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trên tổng số 2.147.892 người, chiếm tỷ lệ 12%. Trong đó, Trung ương có 9.390 người; địa phương có 250.819 người. Số cán bộ, công chức, viên chức nữ người dân tộc thiểu số là 151.788 người, chiếm 58% tổng số cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số. Số cán bộ, công chức, viên chức trẻ dưới 40 tuổi là 130.074 người, tương đương 50%.
Đào tạo nguồn nhân lực tiếp tục được xác định là giải pháp dài hạn. Báo cáo cho biết Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2776/QĐ-TTg ngày 24/12/2025 phê duyệt Đề án “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm giai đoạn 2026-2035, định hướng đến năm 2045”.
Một điểm đáng chú ý trong quá trình triển khai Chiến lược là KH&CN ngày càng được gắn với mục tiêu phát triển sinh kế và khai thác các lợi thế đặc thù của vùng DTTS&MN. Các hoạt động KH&CN liên quan đến vùng DTTS&MN đã được lồng ghép trong một số chương trình KH&CN quốc gia, trong đó có chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số; các nhiệm vụ cấp thiết địa phương; các chương trình KH&CN cấp quốc gia và Chương trình phát triển tài sản trí tuệ. Các nhiệm vụ này góp phần hình thành liên kết giữa nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ vào sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, với sự tham gia của các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp KH&CN và người dân.
Thông qua hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, truy xuất nguồn gốc, đăng ký chỉ dẫn địa lý, bảo hộ nhãn hiệu, xây dựng sản phẩm OCOP và sản phẩm chủ lực địa phương, nhiều sản phẩm nông, lâm, thủy sản đặc trưng của vùng DTTS&MN có điều kiện nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng.
Nhiều chỉ tiêu xã hội đạt và vượt mục tiêu
Kết quả thực hiện 28 chỉ tiêu của Chiến lược cho thấy nhiều lĩnh vực có chuyển biến rõ rệt, song mức độ hoàn thành giữa các nhóm chỉ tiêu chưa đồng đều.
Về giảm nghèo, mục tiêu đặt ra là tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số mỗi năm giảm trên 3%. Theo số liệu của 19/34 tỉnh có báo cáo, mức giảm bình quân đạt trên 4,38%.
Đối với giao thông, tỷ lệ xã có đường ô tô đến trung tâm xã được rải nhựa hoặc bê tông đạt 99,86%; tỷ lệ thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa đạt 93,90%, cao hơn mục tiêu 70%.
Tỷ lệ trường được xây dựng kiên cố đạt 93,78% theo số liệu của 32/34 tỉnh; tỷ lệ lớp học kiên cố đạt 89,97% theo báo cáo của 33/34 tỉnh; tỷ lệ trạm y tế được xây dựng kiên cố đạt 99,29%. Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện phù hợp đạt 98,33%.
Một số chỉ tiêu về nước sạch và thông tin cũng đạt kết quả khá cao. Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 94,84%, vượt mục tiêu 90%; tỷ lệ được nghe đài phát thanh đạt 98,21%. Tuy nhiên, tỷ lệ được xem truyền hình mới đạt 94,19%, chưa đạt mục tiêu 100%.
Trong lĩnh vực giáo dục, tỷ lệ trẻ em mẫu giáo 5 tuổi đến trường đạt 98,48%; học sinh trong độ tuổi tiểu học đạt 99,34%; trung học cơ sở đạt 96,53%; trung học phổ thông đạt 84,45%. Tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông đạt 95,48% theo số liệu của 31/34 tỉnh.
Đối với y tế, tỷ lệ phụ nữ có thai được khám thai định kỳ đạt 84,92%; tỷ lệ phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế hoặc có sự trợ giúp của cán bộ y tế đạt 92,79%; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm còn 13,39%. Tuy nhiên, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số tham gia bảo hiểm y tế theo số liệu tổng hợp của 31/34 tỉnh mới đạt 88,76%, trong khi mục tiêu đặt ra là 98%.
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề đạt 50,26% theo số liệu của 28/34 tỉnh. Về văn hóa, tỷ lệ thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng đạt 90,27%, cao hơn mục tiêu 80%; tỷ lệ thôn có đội văn hóa, văn nghệ hoặc câu lạc bộ truyền thống hoạt động thường xuyên, có chất lượng đạt 72,01%, vượt mục tiêu 50%.
Những khoảng cách cần tiếp tục thu hẹp
Bên cạnh kết quả đạt được, Báo cáo sơ kết cũng chỉ ra những hạn chế cần được nhìn nhận đầy đủ.
Trước hết, thu nhập của người dân tộc thiểu số chưa đạt mục tiêu đề ra. Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2025 thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số tăng trên 2 lần so với năm 2020, nhưng số liệu của 21/34 tỉnh cho thấy mức tăng bình quân mới đạt 1,6 lần.
Một số chỉ tiêu về bố trí, ổn định dân cư còn thấp. Chỉ tiêu hoàn thành cơ bản công tác định canh, định cư và sắp xếp, bố trí ổn định 90% số hộ di cư không theo quy hoạch mới đạt bình quân 54,25% theo số liệu của 10/34 tỉnh. Chỉ tiêu quy hoạch, sắp xếp, di dời, bố trí 60% số hộ dân tộc thiểu số cư trú phân tán, rải rác trong rừng đặc dụng, vùng xa xôi, nơi có nguy cơ lũ ống, lũ quét, sạt lở mới đạt 52,75% theo số liệu của 12/34 tỉnh.
Khoảng cách về phát triển kinh tế - xã hội và khả năng thụ hưởng dịch vụ cơ bản giữa vùng dân tộc với khu vực đô thị vẫn còn khá lớn. Tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số trong tổng số hộ nghèo ở nhiều địa phương còn cao; giảm nghèo chưa thực sự bền vững; chất lượng giáo dục và dịch vụ y tế ở một số địa bàn còn hạn chế. Tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt chưa được giải quyết hiệu quả tại một số nơi; đào tạo nghề nông thôn chưa thực sự tạo được sinh kế bền vững.
Tạo động lực phát triển mới trong giai đoạn 2026-2030
Những kết quả của giai đoạn 2021-2025 tạo nền tảng quan trọng, nhưng đồng thời cho thấy chính sách dân tộc trong giai đoạn tới cần chuyển mạnh từ giải quyết những nhu cầu thiết yếu sang tạo năng lực phát triển bền vững.
Theo định hướng trong Báo cáo sơ kết, giai đoạn 2026-2030 cần tiếp tục quán triệt Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới; Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030; Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ và Quyết định số 1657/QĐ-TTg ngày 30/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ.
Một nhiệm vụ quan trọng là tập trung nguồn lực hoàn thành các nhóm chỉ tiêu chưa đạt của Chiến lược đến năm 2025, đồng thời triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2035. Chủ trương đầu tư Chương trình đã được Quốc hội phê duyệt tại Nghị quyết số 257/2025/QH15.
Bên cạnh nguồn lực nhà nước, cần tiếp tục phát huy tính chủ động của địa phương trong xây dựng các chính sách đặc thù, huy động nguồn lực xã hội và khai thác lợi thế của từng vùng. Đầu tư hạ tầng phải gắn chặt hơn với phát triển sản xuất, thị trường và sinh kế; đào tạo nghề cần hướng đến khả năng tạo việc làm và thu nhập bền vững; khoa học, công nghệ cần tiếp tục hỗ trợ hình thành các chuỗi giá trị dựa trên sản phẩm đặc hữu, tài nguyên bản địa và tri thức của cộng đồng.
Báo cáo cũng cho thấy, bài học xuyên suốt là chính sách chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành với tính chủ động của địa phương và sự tham gia của người dân. Việc lồng ghép chương trình, huy động nguồn lực xã hội, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ dân tộc tại chỗ, phát huy vai trò của người có uy tín, già làng, trưởng thôn, bản và củng cố hệ thống chính trị cơ sở tiếp tục là những yếu tố quan trọng.
Có thể nói, việc triển khai Chiến lược công tác dân tộc đã tạo ra những chuyển biến trên nhiều phương diện, từ hạ tầng, giảm nghèo, giáo dục, y tế đến văn hóa, nguồn nhân lực và ứng dụng KH&CN. Tuy nhiên, những chỉ tiêu chưa đạt cũng cho thấy yêu cầu của giai đoạn tiếp theo không chỉ là tiếp tục đầu tư nguồn lực, mà quan trọng hơn là nâng cao hiệu quả chính sách, giảm chồng chéo, cải thiện chất lượng quản trị và tạo sinh kế bền vững.
Trong bối cảnh mới, mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng DTTS&MN với mặt bằng chung của cả nước đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa chính sách an sinh và chính sách phát triển; giữa đầu tư hạ tầng với phát triển nguồn nhân lực; giữa bảo tồn bản sắc với khai thác giá trị kinh tế; đặc biệt là phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để khai thác hiệu quả hơn tiềm năng, lợi thế của từng địa bàn. Đây cũng là cơ sở để tiếp tục thực hiện các mục tiêu của Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2030, hướng tới tầm nhìn năm 2045./.
