Chuyển đổi số

Chuyển đổi số tạp chí KH&CN: Bắt đầu từ năng lực số của biên tập viên

VH • 29/10/2026 15:59

Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức tổ chức, quản trị và xuất bản của các tạp chí khoa học và công nghệ (KH&CN). Tuy nhiên, kết quả khảo sát năm 2026 cho thấy, trong khi 67,3% người làm công tác biên tập hiểu về các công cụ định danh và quản lý dữ liệu xuất bản, chỉ 45,8% đánh giá tạp chí của mình đã chuyển đổi số hiệu quả. Khoảng cách giữa năng lực sử dụng công nghệ và hiệu quả vận hành đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng khung năng lực số chuyên biệt cho đội ngũ biên tập viên (BTV), gắn với đổi mới quy trình, đào tạo và quản trị tòa soạn.

Chuyển đổi số đang định hình lại vai trò của BTV tạp chí KH&CN

Chuyển đổi số báo chí không đơn thuần là việc đưa nội dung từ báo in lên môi trường điện tử, xây dựng trang thông tin trực tuyến hoặc trang bị phần mềm phục vụ hoạt động tòa soạn. Về bản chất, đây là quá trình thay đổi phương thức tổ chức sản xuất, quản lý, phân phối và khai thác thông tin dựa trên công nghệ số, dữ liệu và các mô hình quản trị mới. Đối với hệ thống tạp chí KH&CN, quá trình này còn gắn với yêu cầu chuẩn hóa hoạt động xuất bản khoa học, nâng cao chất lượng phản biện, bảo đảm liêm chính học thuật và tăng cường khả năng hội nhập quốc tế.

NV3-BAI-Cần xây dựng khung năng lực số cho biên tập viên trong các tạp chí khoa học

Quyết định số 348/QĐ-TTg ngày 06/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã xác lập định hướng phát triển các cơ quan báo chí theo hướng chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại. Trong bối cảnh đó, phát triển nguồn nhân lực có năng lực số là một trong những điều kiện quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số báo chí.

Đối với tạp chí KH&CN, yêu cầu chuyển đổi số mang những đặc thù riêng. Nếu ở nhiều loại hình báo chí, hoạt động số hóa tập trung vào quản trị nội dung, sản xuất đa phương tiện và tiếp cận công chúng, thì đối với tạp chí khoa học, chuyển đổi số còn bao gồm quản lý toàn bộ vòng đời bản thảo, tổ chức phản biện trực tuyến, kiểm soát đạo đức xuất bản, quản lý dữ liệu học thuật, chuẩn hóa siêu dữ liệu và kết nối với hệ thống thông tin khoa học quốc tế.

Sự xuất hiện của các nền tảng quản lý tạp chí điện tử, công cụ phát hiện trùng lặp, hệ thống định danh DOI, ORCID, Crossref, chuẩn dữ liệu XML/JATS và trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi yêu cầu đối với người trực tiếp thực hiện công tác biên tập. BTV không còn chỉ là người rà soát câu chữ, kiểm tra thể thức và hoàn thiện bản thảo trước khi xuất bản. Trong mô hình mới, BTV cần tham gia kiểm soát chất lượng học thuật, điều phối phản biện, giám sát quy trình xuất bản, quản trị dữ liệu và sử dụng các công cụ số để nâng cao hiệu quả công việc.

Báo cáo tổng hợp của đề tài khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ BTV các tạp chí KH&CN Việt Nam giai đoạn đến năm 2030” do Tạp chí KH&CN Việt Nam thực hiện đã tiếp cận vấn đề này từ cả phương diện năng lực cá nhân và điều kiện tổ chức. Nghiên cứu được thực hiện thông qua khảo sát từ tháng 4 đến tháng 6/2026, với khung chọn mẫu gồm 341 tạp chí theo Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN ngày 28/4/2026 của Bộ KH&CN. Kết quả thu được 106 bảng hỏi hợp lệ ở cấp tạp chí và 153 bảng hỏi hợp lệ ở cấp cá nhân.

Mẫu khảo sát cá nhân không chỉ bao gồm BTV chuyên trách mà còn có BTV kiêm giảng viên, nghiên cứu viên, thư ký tòa soạn, lãnh đạo tạp chí và một số nhân sự trực tiếp tham gia quy trình biên tập, xuất bản. Cách tiếp cận này phản ánh đặc điểm tổ chức của các tạp chí KH&CN Việt Nam, nơi nhiều công đoạn biên tập và xuất bản được thực hiện thông qua sự phối hợp giữa các vị trí chuyên trách và kiêm nhiệm.

Dữ liệu nghiên cứu cung cấp những bằng chứng đáng chú ý về mức độ đáp ứng của đội ngũ trước yêu cầu chuyển đổi số, đồng thời làm rõ những khoảng trống cần giải quyết trong phát triển nguồn nhân lực cho các tạp chí KHCN.

Nhận thức về chuyển đổi số đã hình thành nhưng năng lực thực hành chưa đồng đều

Một trong những phát hiện đáng chú ý của nghiên cứu là đội ngũ làm công tác biên tập tại các tạp chí KH&CN có nền tảng học vấn tương đối cao, nhưng trình độ chuyên môn chưa đồng nghĩa với khả năng làm chủ toàn diện quy trình xuất bản số. Trong số 153 người được khảo sát, 43,1% có trình độ thạc sĩ, 28,8% có trình độ tiến sĩ và 6,5% là giáo sư hoặc phó giáo sư. Như vậy, tỷ lệ người có trình độ sau đại học đạt 78,4%.

Về kinh nghiệm nghề nghiệp, 47,7% có thâm niên từ 11-20 năm và 17,0% có trên 20 năm công tác. Đây là lợi thế trong đánh giá bản thảo, xử lý các vấn đề chuyên môn và kiểm soát chất lượng học thuật. Tuy nhiên, lực lượng dưới 30 tuổi chỉ chiếm 9,2%, đặt ra yêu cầu quan tâm hơn đến phát triển nhân lực kế cận.

Kết quả tự đánh giá cho thấy, 77,8% người tham gia khảo sát đồng ý hoặc rất đồng ý rằng mình hiểu rõ quy trình phản biện khoa học; 76,5% có kiến thức phù hợp với lĩnh vực tạp chí; 77,1% có khả năng phát hiện lỗi học thuật cơ bản và 70,6% có khả năng sơ duyệt bài báo khoa học. Tỷ lệ tự đánh giá có kỹ năng biên tập học thuật tốt đạt 62,1%; khả năng biên tập tiếng Anh học thuật chỉ đạt 44,4%. Điều này cho thấy đội ngũ có nền tảng chuyên môn nhưng vẫn cần được bồi dưỡng những kỹ năng chuyên biệt phục vụ xuất bản hiện đại và hội nhập quốc tế.

Đối với năng lực công nghệ số, kết quả khảo sát thể hiện sự phân hóa rõ hơn. Cụ thể, 67,3% người được khảo sát đồng ý hoặc rất đồng ý rằng mình hiểu về DOI, ORCID và Crossref, với điểm trung bình 3,83/5. Tỷ lệ tự đánh giá sử dụng thành thạo phần mềm quản lý bài báo đạt 64,7%, điểm trung bình 3,84/5. Đối với công cụ chống đạo văn, tỷ lệ tương ứng là 63,4%, điểm trung bình 3,71/5. Những kết quả này cho thấy các công cụ phục vụ xuất bản số đã được một bộ phận đáng kể đội ngũ biên tập tiếp cận và sử dụng. Tuy nhiên, mức độ thành thạo chưa đồng đều và vẫn còn khoảng trống giữa các nhóm kỹ năng.

Đặc biệt, chỉ 54,3% người được hỏi đồng ý hoặc rất đồng ý rằng mình có khả năng ứng dụng AI trong biên tập, với điểm trung bình 3,48/5. Tỷ lệ tự đánh giá đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số của báo chí đạt 53,6%, điểm trung bình 3,58/5. Đáng chú ý hơn, chỉ 45,8% đánh giá tạp chí nơi mình công tác đã chuyển đổi số hiệu quả, với điểm trung bình 3,44/5. Đồng thời, 18,3% không đồng ý hoặc rất không đồng ý với nhận định này.

Như vậy, tỷ lệ tự đánh giá hiểu biết về các công cụ định danh và dữ liệu xuất bản cao hơn 21,5 điểm phần trăm so với tỷ lệ đánh giá tạp chí đã chuyển đổi số hiệu quả. Sự chênh lệch này không chứng minh quan hệ nhân quả giữa năng lực cá nhân và kết quả chuyển đổi số của tổ chức, nhưng cho thấy cần phân biệt hai cấp độ: năng lực sử dụng công cụ của người làm biên tập và năng lực tổ chức, vận hành toàn bộ quy trình xuất bản số của tạp chí.

Một tạp chí có thể đã sử dụng phần mềm quản lý bản thảo, công cụ phát hiện trùng lặp hoặc hệ thống định danh DOI, nhưng điều đó chưa đồng nghĩa với việc toàn bộ quy trình tiếp nhận, phản biện, biên tập, xuất bản và quản trị dữ liệu đã được tích hợp hiệu quả. Chuyển đổi số chỉ thực sự phát huy tác dụng khi công nghệ được gắn với việc thiết kế lại quy trình, phân định trách nhiệm, chuẩn hóa dữ liệu và nâng cao chất lượng ra quyết định.

Khoảng cách giữa nhận thức, hành động và điều kiện tổ chức

Kết quả nghiên cứu của Tạp chí KH&CN Việt Nam còn cho thấy, thách thức chuyển đổi số không chỉ xuất phát từ kỹ năng của từng BTV mà còn liên quan đến điều kiện đào tạo, cơ chế phát triển nhân lực và môi trường làm việc. Ở cấp tạp chí, chỉ 14,2% đơn vị cho biết đội ngũ BTV được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên. Có 65,1% đơn vị tổ chức đào tạo thỉnh thoảng; 17,9% rất ít và 2,8% chưa từng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng.

Về hình thức, tập huấn ngắn hạn chiếm 49,1%, tự học chiếm 41,5%, trong khi đào tạo chính quy chỉ chiếm 2,8%. Những số liệu này phản ánh hoạt động phát triển năng lực hiện nay chủ yếu dựa vào các hình thức ngắn hạn hoặc sự chủ động của từng cá nhân. Các chương trình đào tạo có cấu trúc, chuẩn đầu ra và đánh giá năng lực sau đào tạo chưa trở thành phương thức phổ biến. Đáng chú ý, 53,8% tạp chí được khảo sát chưa có chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Đây là một trở ngại đối với việc xây dựng kế hoạch đào tạo dài hạn, bố trí nhân sự theo vị trí việc làm và bảo đảm tính liên tục của quá trình chuyển đổi số.

Ở cấp cá nhân, Báo cáo của Tạp chí KH&CN Việt Nam cho thấy, người làm công tác biên tập nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ số, ngoại ngữ học thuật và AI trong phát triển nghề nghiệp. Các nội dung này được xác định là những nhu cầu đào tạo ưu tiên trong thời gian tới, bên cạnh quản trị tạp chí, kỹ năng dữ liệu, công bố quốc tế và đạo đức xuất bản. Tuy nhiên, nhận thức về nhu cầu phát triển năng lực chưa tự động chuyển hóa thành hành động nếu thiếu chương trình đào tạo, cơ hội thực hành và sự hỗ trợ của tổ chức.

Bên cạnh đó, chỉ 34,0% người được khảo sát đồng ý hoặc rất đồng ý rằng chế độ đãi ngộ hiện nay phù hợp; 28,1% đánh giá nghề biên tập có sức hút với nhân lực trẻ. Trong khi đó, 56,9% cho rằng công việc biên tập chịu áp lực cao. Những kết quả này đặt ra vấn đề về tính bền vững của nguồn nhân lực. Khi yêu cầu công việc ngày càng mở rộng sang quản trị dữ liệu, công nghệ và AI, nhưng cơ chế phát triển nghề nghiệp chưa tương xứng, việc thu hút và duy trì đội ngũ có năng lực trở nên khó khăn hơn.

Xây dựng khung năng lực số: Giải pháp nền tảng cho chuyển đổi số tạp chí KH&CN

Từ kết quả khảo sát của Tạp chí KH&CN Việt Nam, có thể thấy yêu cầu đặt ra không chỉ là nâng cao kỹ năng sử dụng phần mềm của BTV, mà cần xây dựng một hệ thống năng lực phù hợp với toàn bộ chu trình biên tập, xuất bản khoa học trên môi trường số. Theo đó, việc phát triển đội ngũ BTV cần bắt đầu từ xây dựng khung năng lực, làm căn cứ cho tuyển dụng, bố trí nhân sự, đào tạo, đánh giá kết quả công việc và phát triển nghề nghiệp.

Báo cáo của Tạp chí KH&CN Việt Nam đề xuất khung năng lực BTV tạp chí KH&CN gồm 10 nhóm, kết hợp giữa năng lực học thuật, nghiệp vụ xuất bản, đạo đức nghề nghiệp, quản trị dữ liệu và công nghệ số. Cụ thể: 1) Xuất bản khoa học và hệ sinh thái công bố; 2) Đạo đức và liêm chính xuất bản; 3) Quản trị phản biện khoa học; 4) Phương pháp nghiên cứu và thẩm định bản thảo; 5) Biên tập học thuật và chuẩn hóa ngôn ngữ; 6) Bản quyền, truy cập mở và dữ liệu nghiên cứu; 7) Siêu dữ liệu, DOI, ORCID và XML/JATS; 8) Vận hành công cụ số và hệ thống quản trị bản thảo; 9) Sử dụng AI có trách nhiệm; 10) Truyền thông khoa học và đo lường tác động.

Trong khung năng lực này, có thể nhận diện bốn trụ cột trực tiếp phục vụ chuyển đổi số gồm: quản trị dữ liệu và định danh học thuật; vận hành nền tảng xuất bản số; sử dụng AI có trách nhiệm; truyền thông và đo lường tác động trên môi trường số. Các trụ cột này phải được đặt trên nền tảng năng lực học thuật, đạo đức và nghiệp vụ biên tập.

Trước hết, BTV cần có khả năng quản trị dữ liệu và định danh học thuật. Đây là nhóm năng lực liên quan trực tiếp đến chất lượng dữ liệu xuất bản, khả năng lưu trữ, tìm kiếm và kết nối bài báo với các hệ thống thông tin khoa học. BTV cần hiểu cấu trúc siêu dữ liệu của bài báo, chuẩn hóa thông tin tác giả, cơ quan công tác, tài liệu tham khảo, DOI và ORCID; đồng thời có kiến thức về Crossref, XML/JATS và các yêu cầu kỹ thuật liên quan đến trao đổi dữ liệu học thuật.

Thứ hai, BTV phải có năng lực vận hành quy trình xuất bản số. Điều này bao gồm sử dụng hệ thống quản lý bản thảo, theo dõi trạng thái xử lý bài, quản lý phiên bản, điều phối phản biện, kiểm soát thời hạn và khai thác dữ liệu phục vụ quản trị tòa soạn. Việc sử dụng các nền tảng như Open Journal Systems (OJS), ScholarOne hoặc Editorial Manager cần được xem là năng lực thực hành gắn với vị trí việc làm, không chỉ là kỹ năng tin học văn phòng.

Thứ ba, năng lực sử dụng AI có trách nhiệm cần trở thành một nội dung quan trọng trong khung năng lực số. Kết quả khảo sát cho thấy mới có 54,3% người được hỏi tự đánh giá có khả năng ứng dụng AI trong biên tập. Trong khi đó, AI đang tạo ra những thay đổi đáng kể đối với việc tìm kiếm tài liệu, kiểm tra ngôn ngữ, rà soát bản thảo, hỗ trợ chuẩn hóa dữ liệu và truyền thông kết quả nghiên cứu. BTV cần hiểu khả năng và giới hạn của AI, nhận diện nguy cơ thông tin không chính xác, tài liệu tham khảo không có thật, thiên lệch thuật toán và rủi ro lộ lọt dữ liệu bản thảo. Việc sử dụng AI phải tuân thủ yêu cầu bảo mật, quyền tác giả, liêm chính khoa học và chính sách của tạp chí. Đặc biệt, AI chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Trách nhiệm đánh giá chất lượng khoa học, kiểm chứng thông tin, xử lý vấn đề đạo đức và quyết định biên tập vẫn thuộc về con người.

Thứ tư, BTV cần phát triển năng lực truyền thông khoa học và đo lường tác động. Trong môi trường số, nhiệm vụ của tạp chí không kết thúc khi bài báo được xuất bản. Việc phổ biến kết quả nghiên cứu, tiếp cận độc giả, theo dõi lượt truy cập, tải bài, trích dẫn và các chỉ số tác động khác ngày càng có ý nghĩa đối với hoạt động phát triển tạp chí. Tuy nhiên, truyền thông khoa học phải bảo đảm tính chính xác, tránh phóng đại kết quả hoặc diễn giải vượt quá bằng chứng nghiên cứu.

Một điểm quan trọng trong khung năng lực được đề xuất là mỗi nhóm năng lực cần gắn với sản phẩm đánh giá cụ thể. Chẳng hạn, năng lực quản trị dữ liệu có thể được đánh giá thông qua bộ siêu dữ liệu hoàn chỉnh của một bài báo; năng lực vận hành nền tảng số được đánh giá bằng thao tác trên hệ thống; năng lực sử dụng AI được đánh giá qua quy trình sử dụng công cụ an toàn và khả năng xử lý tình huống.

Đổi mới đào tạo và quản trị tòa soạn theo chuẩn năng lực

Để khung năng lực phát huy hiệu quả, Báo cáo của Tạp chí KH&CN Việt Nam đề xuất tổ chức đào tạo BTV theo mô hình ba tầng, phù hợp với trình độ và vị trí công việc.

Tầng thứ nhất là đào tạo nền tảng bắt buộc, thời lượng khoảng 30-45 giờ, dành cho BTV mới hoặc những người chưa được đào tạo có hệ thống. Nội dung tập trung vào xuất bản khoa học, phản biện, đạo đức xuất bản, biên tập học thuật, vận hành hệ thống và quản trị siêu dữ liệu.

Tầng thứ hai là đào tạo chuyên sâu theo vị trí việc làm. BTV xử lý bản thảo cần được bồi dưỡng về quản trị phản biện; nhân sự biên tập nội dung cần chuyên sâu về ngôn ngữ và cấu trúc bài báo; nhân sự kỹ thuật xuất bản cần thành thạo XML/JATS, DOI và quy trình xuất bản điện tử; nhân sự quản trị dữ liệu cần được đào tạo về Crossref, ORCID và các chuẩn dữ liệu liên quan.

Tầng thứ ba là cập nhật thường niên và phát triển nghề nghiệp liên tục. Báo cáo đề xuất mỗi năm tổ chức ít nhất 2-3 chuyên đề cập nhật về công nghệ, chính sách AI, chuẩn xuất bản quốc tế và những tình huống mới trong thực tiễn nghề nghiệp.

Cùng với đào tạo, cần xây dựng cơ chế đánh giá năng lực trước và sau bồi dưỡng. Việc hoàn thành khóa học không nên chỉ được xác nhận bằng thời gian tham dự, mà cần dựa trên khả năng xử lý bản thảo, thực hiện quy trình, phát hiện sai sót và giải quyết tình huống nghề nghiệp.

Đối với hoạt động quản trị tòa soạn, chuyển đổi số cần gắn với chuẩn hóa quy trình và trách nhiệm của từng vị trí. Hệ thống quản lý bản thảo phải hỗ trợ kiểm soát tiến độ, lưu vết xử lý, quản lý hồ sơ phản biện và cung cấp dữ liệu phục vụ đánh giá hiệu quả hoạt động.

Bên cạnh đó, cần phát triển cơ chế hỗ trợ chuyên môn giữa các thế hệ BTV. Những người có kinh nghiệm học thuật và nghiệp vụ biên tập có thể hướng dẫn nhân sự trẻ về thẩm định bản thảo, tổ chức phản biện và xử lý tình huống. Ngược lại, đội ngũ có kỹ năng công nghệ tốt có thể hỗ trợ đồng nghiệp tiếp cận nền tảng số và các công cụ mới. Việc kết hợp hai nhóm năng lực này giúp giảm khoảng cách trong tổ chức, đồng thời bảo đảm chuyển đổi số không làm suy giảm các giá trị cốt lõi của hoạt động biên tập khoa học.

Khuyến nghị chính sách

Từ kết quả nghiên cứu của Tạp chí KH&CN Việt Nam, việc thúc đẩy chuyển đổi số tại các tạp chí KH&CN cần được triển khai đồng bộ ở cấp quản lý nhà nước, cơ quan chủ quản, tạp chí và từng BTV.

Trước hết, cần nghiên cứu xây dựng và từng bước chuẩn hóa khung năng lực BTV tạp chí KH&CN, trong đó xác định rõ những yêu cầu về năng lực số theo từng vị trí việc làm. Khung năng lực cần được sử dụng làm căn cứ xây dựng chương trình đào tạo, tuyển dụng, bố trí nhân sự và đánh giá kết quả công việc.

Thứ hai, cần xây dựng chương trình bồi dưỡng chuyên biệt về chuyển đổi số xuất bản khoa học. Nội dung cần ưu tiên các kỹ năng đang có khoảng trống như quản trị nền tảng số, siêu dữ liệu, AI có trách nhiệm, biên tập tiếng Anh học thuật và quản trị phản biện.

Thứ ba, cần gắn đầu tư hạ tầng công nghệ với phát triển năng lực vận hành. Việc trang bị phần mềm chỉ phát huy hiệu quả khi BTV được đào tạo, quy trình được chuẩn hóa và có cơ chế đánh giá kết quả sử dụng.

Thứ tư, cần hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực, nhất là cơ chế đào tạo, đãi ngộ, ghi nhận năng lực và xây dựng đội ngũ kế cận. Đây là điều kiện quan trọng để các tạp chí thu hút nhân sự có trình độ học thuật, ngoại ngữ và công nghệ.

Thứ năm, cần hình thành mạng lưới chia sẻ kinh nghiệm giữa các tạp chí KH&CN, tạo điều kiện trao đổi tài liệu, quy trình, công cụ và những thực hành tốt trong chuyển đổi số.

(Tổng hợp từ: Báo cáo tổng hợp của đề tài khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ BTV các tạp chí KH&CN Việt Nam giai đoạn đến năm 2030”)

Nổi bật
    Mới nhất
    Chuyển đổi số tạp chí KH&CN: Bắt đầu từ năng lực số của biên tập viên