Bước chuyển đầu tư dài hạn cho các nhóm nghiên cứu mạnh
Chương trình Phát triển nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026-2035 (PEBR) được kỳ vọng tạo ra bước chuyển từ đầu tư dàn trải sang đầu tư tập trung, dài hạn cho các nhóm nghiên cứu mạnh, qua đó hình thành các công nghệ lõi và sản phẩm chiến lược phục vụ năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nghiên cứu cơ bản là mắt xích đầu tiên của đổi mới sáng tạo
Chương trình PEBT được Bộ trưởng Bộ KH&CN ban hành theo Quyết định số 2555/QĐ-BKHCN ngày 25/5/2026, hướng tới góp phần nâng cao vị thế khoa học của Việt Nam và tạo nền tảng tri thức cho phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược trong dài hạn.
Tại hội nghị Sơ kết 6 tháng đầu năm và phương hướng nhiệm vụ cuối năm 2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) ngày 29/6, ông Nguyễn Phú Bình, Phó Giám đốc Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia (NAFOSTED), đã giới thiệu Chương trình.
Theo ông Nguyễn Phú Bình, sức mạnh KH&CN của một quốc gia không chỉ phụ thuộc vào nguồn tài nguyên hay lao động giá rẻ mà nằm ở khả năng làm chủ công nghệ và chuyển hóa tri thức thành động lực phát triển.
Những thành tựu nổi bật của thế giới trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), điện tử hay công nghệ lượng tử đều bắt nguồn từ quá trình đầu tư bền bỉ cho nghiên cứu cơ bản trong nhiều năm.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN và ĐMST) trở thành động lực tăng trưởng mới, nghiên cứu cơ bản được xác định là nền móng của hệ sinh thái ĐMST quốc gia.
“Nếu muốn có công nghệ thì phải có tri thức, muốn có tri thức thì phải có những nghiên cứu cơ bản xuất sắc. Nghiên cứu cơ bản chính là giai đoạn đầu tiên của chuỗi ĐMST quốc gia, nơi hình thành những ý tưởng, phát hiện và tri thức nền tảng để phát triển các công nghệ mới”, Phó Giám đốc Quỹ NAFOSTED nhấn mạnh.
Chương trình PEBR không được thiết kế để thay thế các chương trình nghiên cứu cơ bản hiện có. Thay vào đó, chương trình tập trung vào những nhiệm vụ có tiềm năng tạo đột phá, góp phần hoàn thiện hệ sinh thái nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ quốc gia.
Theo mô hình được Bộ KH&CN xây dựng, nghiên cứu cơ bản xuất sắc là nền tảng tư duy của toàn bộ Chương trình, dựa trên nguyên tắc tôn trọng tự do học thuật và chấp nhận rủi ro khoa học hợp lý. Từ nền tảng này sẽ hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Điểm khác biệt lớn nhất của PEBR nằm ở triết lý đầu tư. Trong nhiều năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học tại Việt Nam chủ yếu được triển khai dưới dạng các đề tài đơn lẻ, thời gian thực hiện ngắn và phân tán nguồn lực.
Cách tiếp cận này giúp duy trì hoạt động nghiên cứu nhưng khó tạo ra những kết quả mang tính đột phá hoặc đủ sức cạnh tranh quốc tế.
Chuyển từ đầu tư ngắn hạn sang đầu tư dài hạn
PEBR được thiết kế theo hướng chuyển từ tài trợ ngắn hạn sang đầu tư dài hạn, từ hỗ trợ các đề tài riêng lẻ sang phát triển chuỗi, cụm nhiệm vụ nghiên cứu có tính liên kết.
Thay vì cấp kinh phí theo từng năm, Chương trình áp dụng cơ chế đầu tư theo gói, tập trung và kéo dài từ 5 đến 10 năm. Các nhóm nghiên cứu được trao quyền tự chủ cao hơn trong sử dụng nguồn lực, đồng thời phải chịu trách nhiệm giải trình dựa trên kết quả đầu ra.
Một thay đổi đáng chú ý khác là việc chấp nhận rủi ro khoa học. Theo cơ chế mới, thất bại trong nghiên cứu không mặc nhiên bị xem là sai phạm hành chính hay tài chính nếu quá trình thực hiện tuân thủ đúng quy định.
Cách tiếp cận này được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện cho các nhà khoa học mạnh dạn theo đuổi những hướng nghiên cứu mới, có tính đột phá nhưng tiềm ẩn rủi ro cao
Bên cạnh đó, việc đánh giá các nhiệm vụ nghiên cứu cũng sẽ chuyển từ chú trọng quy trình sang tập trung vào chất lượng đầu ra và tác động thực tế. Các tiêu chí quốc tế như mức độ ảnh hưởng khoa học, năng lực hợp tác quốc tế hay khả năng tạo ra công nghệ mới sẽ được sử dụng trong quá trình đánh giá.
Về các chỉ tiêu cụ thể, đến năm 2030, Chương trình đặt mục tiêu hình thành khoảng 30 nhóm nghiên cứu mạnh trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, trong đó có ít nhất 3 nhóm đạt trình độ dẫn dắt trong khu vực; đến năm 2035 hình thành khoảng 50 nhóm nghiên cứu mạnh, trong đó có ít nhất 10 nhóm đạt trình độ dẫn dắt trong khu vực và có ảnh hưởng học thuật quốc tế rõ nét.
Tỷ lệ công bố khoa học trên các tạp chí thuộc nhóm Q1 trong cơ sở dữ liệu Web of Science và hệ thống Nature Index dự kiến tăng khoảng 1,5 lần vào năm 2030 và nâng lên khoảng 2 lần vào năm 2035 so với mức trung bình giai đoạn 2021-2025 của từng lĩnh vực khoa học tương ứng.
Chương trình cũng phấn đấu đến năm 2030 có ít nhất một hướng nghiên cứu tiệm cận nhóm 5% thế giới về mức độ ảnh hưởng khoa học theo các chỉ số trích dẫn chuẩn hóa theo lĩnh vực; đến năm 2035 có ít nhất 3 hướng nghiên cứu tiệm cận nhóm này.
Theo Quyết định, ông Nguyễn Phú Bình cho biết Quỹ NAFOSTED là đơn vị chủ trì tổ chức thực hiện Chương trình PEBR; có trách nhiệm xây dựng kế hoạch triển khai, tổ chức đánh giá, lựa chọn nhóm nghiên cứu và theo dõi kết quả thực hiện Chương trình.
Các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và tổ chức KHCN liên quan có trách nhiệm phối hợp triển khai Chương trình; lồng ghép mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình PEBR vào các chương trình, kế hoạch phát triển KHCN và ĐMST của ngành, lĩnh vực và địa phương.
Phó Giám đốc Quỹ NAFOSTED cho rằng đầu tư cho nghiên cứu cơ bản không phải là đầu tư cho kết quả của ngày hôm nay, mà là đầu tư cho năng lực cạnh tranh của quốc gia trong 10-20 năm tới. Mục tiêu cuối cùng của chương trình là xây dựng được những nhóm nghiên cứu xuất sắc có khả năng tạo ra không chỉ các công bố khoa học chất lượng cao mà còn các công nghệ chiến lược mang dấu ấn Việt Nam.
Khi đó, theo ông Nguyễn Phú Bình, nghiên cứu cơ bản sẽ không chỉ dừng lại ở phòng thí nghiệm mà trở thành nền tảng để hình thành các ngành công nghiệp mới, nâng cao vị thế KH&CN của đất nước trên trường quốc tế./.
