Bản đồ nhiệt giúp đô thị Việt thích ứng với nắng nóng cực đoan
Trước nguy cơ nắng nóng cực đoan gia tăng, nghiên cứu của Trường Đại học RMIT Việt Nam cho thấy bản đồ nhiệt kết hợp dữ liệu xã hội có thể giúp các đô thị xác định được nơi cần ưu tiên giải pháp làm mát, bảo vệ nhóm dân cư dễ bị tổn thương và sử dụng hiệu quả nguồn lực thích ứng.
Không chỉ tìm nơi nóng nhất, mà phải xác định ai cần được bảo vệ
Nếu chỉ có nguồn lực để tăng cường cây xanh, cải thiện không gian công cộng và hỗ trợ người dân tại một số khu vực, thành phố nên bắt đầu từ đâu? Câu trả lời không đơn giản là những nơi có nhiệt độ cao nhất, mà còn phụ thuộc vào việc ai đang sinh sống tại đó, họ có khả năng chống chịu nắng nóng đến mức nào và những giải pháp nào có thể mang lại hiệu quả thiết thực.
Đây là vấn đề được đặt ra trong bối cảnh Việt Nam đứng trước khả năng bước vào một chu kỳ El Niño mới trong giai đoạn 2026-2027. Hai kịch bản El Niño có thể kéo theo nhiệt độ tăng cao, hạn hán và nguy cơ thiếu nước. Khi nắng nóng cực đoan trở thành thách thức đối với các đô thị, việc xác định chính xác những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quy hoạch và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Dự án Urban Heat Resilience: Bridging Science, Policy, and Sustainable Design (tạm dịch: Khả năng chống chịu của các đô thị trước nắng nóng: kết nối khoa học, chính sách và thiết kế bền vững) hướng đến giải quyết bài toán này.
Nghiên cứu có sự tham gia của TS. Trần Đức Trinh, giảng viên cấp cao kiêm Điều phối nghiên cứu viên tại Trường ĐH RMIT Việt Nam, cùng các đối tác trong khu vực. Được hỗ trợ bởi Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia (DFAT), Viện Môi trường Stockholm, Trung tâm Phòng chống thiên tai châu Á (ADPC) và nhiều tổ chức khác tại Đông Nam Á, dự án tìm kiếm các giải pháp giúp đô thị chủ động hơn trước tình trạng khí hậu ngày càng nóng lên.

Điểm đáng chú ý của hướng nghiên cứu là không dừng ở việc xác định những nơi có nền nhiệt cao. Dữ liệu nhiệt độ được kết hợp với thông tin kinh tế và xã hội để làm rõ mối liên hệ giữa các điểm nóng đô thị với những cộng đồng có ít điều kiện ứng phó. Cách tiếp cận này giúp chuyển trọng tâm từ câu hỏi “nơi nào nóng nhất?” sang vấn đề rộng hơn “nơi nào cần được ưu tiên bảo vệ nhất?”.
Tại TP. Hồ Chí Minh và các thành phố khác ở miền Nam, nhóm nghiên cứu xác định sự giao thoa giữa những khu vực có nền nhiệt cao và các nhóm dân cư dễ bị tổn thương. Trong đó có hộ thu nhập thấp, người cao tuổi, người khuyết tật và những người sống trong các khu nhà tạm bợ. Đây là những nhóm có thể thiếu nguồn lực cần thiết để ứng phó với nhiệt độ tăng cao.
TS. Trần Đức Trinh cho biết: “Chúng tôi đang đẩy mạnh nghiên cứu với công cụ lập bản đồ nhiệt và kết nối công cụ này với dữ liệu về các cộng đồng dễ bị tổn thương để hiểu hơn về tác động của nắng nóng và đưa ra giải pháp ứng phó dựa trên dữ liệu, phù hợp với điều kiện thực tế tại từng địa phương”.
Như vậy, giá trị của bản đồ nhiệt không chỉ nằm ở khả năng trực quan hóa sự khác biệt về nhiệt độ giữa các khu vực. Khi được kết hợp với dữ liệu về dân cư và điều kiện kinh tế - xã hội, công cụ này còn có thể hỗ trợ cơ quan quản lý xác định những nơi mà nắng nóng gây ra thách thức lớn hơn đối với cộng đồng, từ đó định hướng các biện pháp ứng phó sát với nhu cầu thực tế.
Từ dữ liệu nhiệt đến những khu đô thị mát hơn
Một trong những hướng được nhóm nghiên cứu xem xét là các giải pháp dựa vào tự nhiên, bao gồm công viên, không gian xanh và mái nhà xanh. Thay vì bổ sung cây xanh một cách dàn trải, nghiên cứu hướng tới xác định những khu vực mà việc gia tăng mảng xanh và cải thiện bề mặt đô thị có thể mang lại hiệu quả làm mát tốt nhất.
Kết quả mô phỏng cho thấy, việc tăng diện tích mảng xanh và các bề mặt thẩm thấu nước tại những khu vực đô thị hóa cao có thể giúp giảm tới 24 ngày nắng nóng cực đoan tại các điểm nóng. Một số khu vực có thể trải qua các đợt nắng nóng ngắn hơn, với mức giảm lên đến 30 ngày nắng nóng cực đoan trong một năm, theo kết quả mô phỏng được nêu trong tài liệu nghiên cứu.
Những con số này cho thấy, quy hoạch không gian xanh cần được xem xét cùng với đặc điểm nhiệt độ của từng khu vực. Trong điều kiện quỹ đất và nguồn lực đầu tư có hạn, việc xác định đúng vị trí để triển khai giải pháp làm mát có thể giúp tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực. Bản đồ nhiệt cung cấp cơ sở để các đô thị xem xét nơi nào cần ưu tiên, thay vì chỉ dựa vào những giả định chung về phân bố nhiệt độ.
Bên cạnh đó, dữ liệu khoa học có thể hỗ trợ việc đưa yếu tố chống chịu với nắng nóng vào các quyết định phát triển đô thị trong dài hạn. Những lựa chọn về quy hoạch, hạ tầng và không gian xanh được thực hiện hôm nay sẽ ảnh hưởng đến khả năng ứng phó của cộng đồng trong nhiều thập kỷ tới.
Những khu vực có mật độ xây dựng cao, bề mặt bê tông dày đặc và thiếu cây xanh có thể trải qua tới 100 ngày nắng nóng cực đoan trong mỗi mùa. Nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời, một số nơi có thể phải đối mặt với mức tăng thêm 40-60 ngày nắng nóng khắc nghiệt mỗi năm vào giữa thế kỷ này.
Đây là những dự báo cho thấy áp lực mà nắng nóng có thể đặt lên các đô thị trong tương lai. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng không đồng đều giữa các khu vực, và khả năng ứng phó của người dân cũng khác nhau. Vì vậy, việc kết hợp dữ liệu nhiệt với thông tin về cộng đồng có ý nghĩa đối với cả quy hoạch không gian lẫn việc xác định nhóm cần được hỗ trợ.
TS. Trần Đức Trinh chia sẻ: “Nghiên cứu của chúng tôi có thể chỉ ra những khu vực chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi tình trạng đảo nhiệt đô thị với bằng chứng xác đáng, từ đó triển khai biện pháp ứng phó đúng nơi cần. Kết quả nghiên cứu cùng các công cụ được phát triển trong khuôn khổ dự án sẽ hỗ trợ xây dựng các giải pháp quy hoạch đô thị đúng trọng tâm, nhằm kiến tạo nên các khu vực có khả năng chống chịu nắng nóng tại Việt Nam trong tương lai”.
Theo hướng tiếp cận này, bản đồ nhiệt có thể trở thành một nguồn dữ liệu hỗ trợ các nhà quy hoạch đô thị, chủ đầu tư và chuyên gia môi trường xác định những khu vực cần đầu tư vào hạ tầng xanh và giải pháp thích ứng khí hậu. Thay vì lựa chọn phương án dựa chủ yếu trên giả định, các bên có thể sử dụng bằng chứng khoa học để cân nhắc vị trí, nhu cầu và mức độ ưu tiên của từng giải pháp.

Từ bài toán của Việt Nam đến nhu cầu chung ở Đông Nam Á
Ý nghĩa của nghiên cứu không chỉ giới hạn trong phạm vi một thành phố hay một quốc gia. Đặc biệt, tại các buổi chia sẻ kết quả dự án, nhiều tổ chức quy hoạch đô thị và tổ chức phi chính phủ, đã bày tỏ sự quan tâm đến phương pháp nghiên cứu.
Các tổ chức này quan tâm đến khả năng sử dụng phương pháp lập bản đồ để xác định những điểm nóng đô thị, trao đổi với chủ các dự án nhà ở đô thị về tác động của nắng nóng cực đoan và hướng dẫn xây dựng kế hoạch ứng phó.
Trong thời gian tới, nhóm của TS. Trần Đức Trinh sẽ tiếp tục tìm hiểu tác động của nhiệt độ đô thị đối với sức khỏe, năng suất lao động và sự bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận các giải pháp làm mát cũng như không gian xanh tại Việt Nam và Đông Nam Á.
TS. Trần Đức Trinh nhận định: “Lập bản đồ nhiệt đô thị là một cách tiếp cận đơn giản và trực quan, giúp cả cộng đồng lẫn những nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết sách phù hợp. Cùng nhau đồng thiết kế và hợp tác giữa nhiều bên sẽ giúp các đô thị đang đối mặt với rủi ro do biến đổi khí hậu chuyển đổi bền vững hơn”./.
