Bắc Ninh đặt mục tiêu mỗi người dân có danh tính số, tài khoản số vào năm 2030
Thay vì chỉ tập trung vào số hóa thủ tục hành chính, tỉnh Bắc Ninh đang hướng tới mục tiêu đến năm 2030, mỗi người dân đều có danh tính số, phương tiện số, kỹ năng số và tài khoản số. Tỉnh cũng từng bước đưa VNeID trở thành kênh giao tiếp chính thức giữa người dân với chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng.
UBND tỉnh Bắc Ninh vừa ban hành Kế hoạch số 303/KH-UBND về phát triển công dân số tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2026-2030 (Kế hoạch 303). Để hiện thực hóa các mục tiêu trong Kế hoạch, Bắc Ninh xác định đồng thời các nhiệm vụ về định danh, tích hợp dữ liệu, dịch vụ công, chữ ký số, phổ cập kỹ năng, hạ tầng và bảo đảm an toàn trên môi trường số.
Từ chuyển đổi số đến phát triển công dân số
Chuyển đổi số chỉ thực sự tạo ra giá trị xã hội khi người dân có khả năng tiếp cận, sử dụng và thụ hưởng các dịch vụ số. Từ góc độ đó, phát triển công dân số không đơn thuần là việc người dân sở hữu điện thoại thông minh, tài khoản định danh điện tử hay sử dụng Internet. Điều quan trọng hơn là hình thành năng lực tham gia môi trường số một cách thường xuyên, an toàn và hiệu quả trong các hoạt động hành chính, kinh tế, y tế, giáo dục và đời sống xã hội.
Mục tiêu mà Bắc Ninh đặt ra là: phấn đấu mỗi người dân có danh tính số, phương tiện số, kỹ năng số và tài khoản số. Cùng với đó, tỉnh hướng tới tích hợp thông tin, giấy tờ thiết yếu trên VNeID; tái cấu trúc thủ tục hành chính và dịch vụ công theo hướng lấy người dân làm trung tâm; kết nối các mô hình đã được triển khai như: Tổ công nghệ số cộng đồng, mạng lưới “Đại sứ số” và phong trào “Bình dân học vụ số”.
Như vậy, “công dân số” trong định hướng của Bắc Ninh có thể nhìn nhận qua nhiều lớp năng lực liên kết với nhau. Danh tính số tạo cơ sở xác định một cá nhân trong môi trường điện tử; phương tiện và tài khoản số tạo điều kiện thực hiện giao dịch; kỹ năng số quyết định khả năng sử dụng; trong khi dữ liệu, hạ tầng và an toàn thông tin tạo nên môi trường để người dân thực hiện các hoạt động đó một cách tin cậy. Điều này cho thấy sự chuyển dịch từ giai đoạn “đưa dịch vụ lên môi trường số” sang giai đoạn thúc đẩy người dân thực sự sử dụng môi trường số.
Phát triển từ nền tảng “Bình dân học vụ số”
Bắc Ninh không bắt đầu phát triển công dân số từ con số không. Trước khi Kế hoạch 303 được xây dựng, tỉnh đã triển khai nhiều hoạt động phổ cập kỹ năng số và ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh, xác thực điện tử. Một trong những nền tảng đáng chú ý là phong trào “Bình dân học vụ số”. Theo Kế hoạch số 94/KH-UBND triển khai phong trào này năm 2026, Bắc Ninh đặt ra 5 chỉ tiêu: 100% cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khu vực công có kỹ năng số; 100% học sinh được trang bị kiến thức, kỹ năng số; 100% người dân trưởng thành có hiểu biết cơ bản về chuyển đổi số; trên 80% người dân trưởng thành được xác nhận phổ cập kỹ năng số trên nền tảng VNeID và 100% người lao động trong doanh nghiệp có kỹ năng số phục vụ sản xuất, kinh doanh. Các mục tiêu này có ý nghĩa trực tiếp đối với phát triển công dân số. Nếu tài khoản định danh điện tử giải quyết vấn đề “ai đang tham gia môi trường số”, thì kỹ năng số trả lời câu hỏi người đó có thể làm gì và có khả năng khai thác các tiện ích số đến đâu.

Kết quả triển khai trên thực tế cũng đã tạo ra những tiền đề nhất định. Theo thông tin được tỉnh Bắc Ninh công bố ngày 26/6/2026 trên cổng bacninh.gov.vn, trong 6 tháng đầu năm, lực lượng Công an tỉnh đã trực tiếp hướng dẫn 197.386 lượt người dân và hỗ trợ trực tuyến 55.441 lượt người trong quá trình triển khai chuyển đổi số và phong trào “Bình dân học vụ số”.
Ở cấp độ rộng hơn, Bắc Ninh tiếp tục kiện toàn Tổ công nghệ số cộng đồng tại cấp xã, cấp thôn, hướng dẫn khai thác nền tảng học trực tuyến MOOCs “Bình dân học vụ số” và tích hợp nền tảng với VNeID phục vụ phổ cập kỹ năng số.
Tuy nhiên, phát triển công dân số không thể chỉ được đo bằng số tài khoản được tạo hoặc số lượt người được hướng dẫn. Chính việc tỉnh đặt mục tiêu xác nhận mức độ phổ cập kỹ năng số cho trên 80% người trưởng thành cho thấy yêu cầu đang chuyển dần sang kết quả sử dụng thực tế.
Đến cuối năm 2026, ít nhất 90% người trưởng thành có tài khoản định danh điện tử mức độ 2
Điểm đáng chú ý của Kế hoạch 303 là các định hướng dài hạn được cụ thể hóa thành một nhóm chỉ tiêu có thể đo lường ngay trong năm 2026. Theo đó, đến ngày 31/12/2026, Bắc Ninh đặt mục tiêu ít nhất 90% người dân trưởng thành có tài khoản định danh điện tử mức độ 2. Ít nhất 70% công dân tích hợp đủ 5 loại thông tin, giấy tờ cơ bản trên VNeID, gồm giấy khai sinh; thẻ ngân hàng/tài khoản thanh toán/ví điện tử/tài khoản tiền di động; tài khoản an sinh xã hội; số thuê bao di động và sổ sức khỏe điện tử.
Đây là các chỉ tiêu có quan hệ trực tiếp với nhau. Có tài khoản định danh mới là điều kiện ban đầu. Khi các thông tin thiết yếu được tích hợp, tài khoản định danh mới có khả năng trở thành “điểm truy cập” vào nhiều dịch vụ khác nhau. Phạm vi tích hợp cũng không dừng ở 5 nhóm dữ liệu trên. Kế hoạch 303 xác định 12 loại giấy tờ, thông tin thiết yếu cần được tích hợp trên VNeID. Ngoài 5 nhóm ưu tiên còn có giấy phép lái xe, chứng nhận đăng ký xe, thông tin văn bằng và chứng chỉ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, lý lịch tư pháp, mã số thuế cá nhân và giấy đăng ký kết hôn.
Riêng 7 nhóm giấy tờ còn lại, mục tiêu đến cuối năm 2026 là tỷ lệ công dân tích hợp đạt từ 30% trở lên, ưu tiên các loại giấy tờ gắn với thủ tục có tần suất giao dịch cao.
Nếu hoàn thành các mục tiêu này, VNeID sẽ không chỉ đóng vai trò xác thực danh tính mà còn tạo nền tảng để người dân giảm việc khai báo lại những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có. Điều đó phù hợp với xu hướng đang được triển khai ở cấp quốc gia. Đề án phát triển VNeID giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 định hướng VNeID trở thành nền tảng số quốc gia và trung tâm của hệ sinh thái số; hướng tới tích hợp giấy tờ, các tiện ích thiết yếu và phục vụ giao dịch số của người dân, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức.
Từ “nộp hồ sơ trực tuyến” đến thực hiện toàn bộ giao dịch trên môi trường số
Một điểm mới đáng chú ý khác là Bắc Ninh gắn phát triển công dân số với việc tái cấu trúc thủ tục hành chính, thay vì đơn thuần số hóa cách thức nộp hồ sơ. Kế hoạch 303 yêu cầu các sở, ban, ngành và UBND xã, phường rà soát toàn bộ thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến thuộc thẩm quyền, tái cấu trúc quy trình để tích hợp chữ ký số công cộng trên VNeID. Mục tiêu là công dân có thể ký trực tiếp trên biểu mẫu, tờ khai điện tử mà không phải thực hiện chuỗi thao tác “in - ký tay - quét - tải lên”.
Đến cuối năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu 100% thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền được rà soát, tái cấu trúc theo hướng tích hợp chữ ký số công cộng trên VNeID. Đối với các thủ tục do tỉnh tiếp nhận, giải quyết trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh, mục tiêu cũng là 100% hoàn thành tích hợp chữ ký số công cộng trên VNeID, với điều kiện kết nối kỹ thuật được đáp ứng.
Đáng chú ý, Bắc Ninh đặt chỉ tiêu ít nhất 15% hồ sơ trực tuyến được ký bằng chữ ký số cá nhân trên VNeID đối với những thủ tục đã hoàn thành tích hợp. Con số 15% có ý nghĩa khác với chỉ tiêu “100% tích hợp”. Một chỉ tiêu phản ánh mức độ sẵn sàng của hệ thống, trong khi chỉ tiêu còn lại bước đầu đo mức độ sử dụng thực tế của người dân. Đây là điểm quan trọng trong đánh giá hiệu quả chuyển đổi số: hạ tầng và dịch vụ được cung cấp chưa đồng nghĩa với việc công dân sẽ tự động sử dụng.
Tỉnh cũng yêu cầu 100% hồ sơ thuộc các nhóm thủ tục quy định tại Phụ lục II, III của Nghị quyết số 66.22/2026/NQ-CP phải được áp dụng đúng chính sách miễn, giảm phí, lệ phí. Chính sách này bao gồm nhiều giao dịch gần với đời sống như đăng ký, cấp biển phương tiện; giấy phép lái xe; thẻ căn cước; đăng ký cư trú; hộ chiếu; lý lịch tư pháp; hộ tịch; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… khi công dân đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Như vậy, phát triển công dân số được gắn với lợi ích cụ thể. Người dân tham gia môi trường số không chỉ vì yêu cầu chuyển đổi số của cơ quan quản lý mà có thể trực tiếp giảm giấy tờ, thao tác, thời gian và được hưởng chính sách tương ứng khi đủ điều kiện.
“Cầm tay chỉ việc” để thu hẹp khoảng cách kỹ năng số
Hạ tầng và dịch vụ số dù được thiết kế tốt vẫn khó phát huy đầy đủ hiệu quả nếu một bộ phận người dân chưa có khả năng sử dụng. Đây là lý do mà Kế hoạch 303 dành riêng một nhóm nhiệm vụ cho phổ cập kỹ năng số. Tổ công nghệ số cộng đồng, mạng lưới “Đại sứ số”, các mô hình “Gia đình số”, “Chợ số - Nông thôn số”, “Mỗi công dân - Một danh tính số” tiếp tục được sử dụng để hướng dẫn người dân cài đặt và sử dụng VNeID, tích hợp giấy tờ, tạo tài khoản định danh điện tử mức độ 2 và thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến theo phương châm “cầm tay chỉ việc”.
Tại cấp xã, cách làm được cụ thể hóa bằng phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người”. UBND xã, phường trực tiếp chỉ đạo Tổ công nghệ số cộng đồng, đồng thời nhân rộng các mô hình Gia đình số, Đại sứ số, Chợ số - Nông thôn số phù hợp với điều kiện từng địa bàn. Đến cuối năm 2026, Bắc Ninh yêu cầu 100% xã, phường có Tổ công nghệ số cộng đồng hoạt động thường xuyên, trực tiếp hỗ trợ người dân tiếp cận công dân số. Đồng thời, 100% xã, phường phải tổ chức hoạt động hưởng ứng Ngày Công dân số Việt Nam 15/10 gắn với Ngày Chuyển đổi số tỉnh 10/10.
Cách tổ chức này đặc biệt cần thiết đối với những nhóm có nguy cơ gặp khó khăn khi chuyển dịch sang môi trường số. Kế hoạch xác định ưu tiên người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, người dân vùng sâu, vùng xa và công nhân khu công nghiệp. Ở đây, bài toán không chỉ là “phủ” công nghệ mà còn là khả năng tiếp cận. Một hệ thống dịch vụ công số có thể rất thuận tiện đối với người thành thạo công nghệ nhưng lại trở thành rào cản mới đối với người thiếu thiết bị, kỹ năng hoặc khả năng tự bảo vệ trước rủi ro trên mạng.
Những khoảng trống cần được giải quyết
Các số liệu công bố trong năm 2026 cho thấy Bắc Ninh đã có nền tảng đáng kể cho chuyển đổi số, nhưng vẫn tồn tại những khoảng trống cần giải quyết. Theo Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Ninh, tại thời điểm tháng 6/2026, 11/47 chỉ tiêu thuộc Bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số (DTI) của tỉnh chưa đạt yêu cầu, trong đó có những chỉ tiêu còn cách khá xa mục tiêu. Tỉnh đặt mục tiêu đưa DTI vào nhóm 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước.
DTI không đồng nhất với mức độ phát triển công dân số, nhưng kết quả này cho thấy chuyển đổi số vẫn còn những mắt xích cần tiếp tục hoàn thiện. Đối với công dân số, vấn đề đáng chú ý không chỉ là số lượng tài khoản mà còn là khả năng sử dụng thường xuyên, mức độ hoàn thiện dữ liệu, kỹ năng thực hiện giao dịch, khả năng tiếp cận dịch vụ và an toàn của người dùng.
Kế hoạch 303 vì vậy đặt vấn đề bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân song hành với mở rộng dịch vụ. Các doanh nghiệp viễn thông, công nghệ số được yêu cầu bảo đảm hạ tầng, đường truyền và kết nối Internet, ưu tiên khu vực nông thôn, vùng khó khăn. Đồng thời, tỉnh yêu cầu triển khai các giải pháp hỗ trợ, bảo vệ người dân trên không gian mạng, tạo lập “niềm tin số”; dữ liệu dùng để xác định đối tượng hưởng chính sách phải được khai thác đúng mục đích và không được sử dụng để phân biệt đối xử hoặc hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Đây là điều kiện quan trọng bởi mức độ tham gia môi trường số phụ thuộc không nhỏ vào niềm tin. Khi một người dân lo ngại lộ thông tin cá nhân, bị lừa đảo hoặc không biết cách xử lý sự cố, họ có thể vẫn sở hữu tài khoản số nhưng hạn chế sử dụng. Bởi vậy, truyền thông về công dân số trong Kế hoạch 303 không chỉ giới thiệu tiện ích VNeID. Bắc Ninh yêu cầu đồng thời cảnh báo thủ đoạn lừa đảo, hướng dẫn kỹ năng bảo vệ thông tin cá nhân và đa dạng hóa cách truyền thông qua báo chí, mạng xã hội, hệ thống thông tin cơ sở, nhóm Zalo cộng đồng, infographic và video ngắn; trong đó chú trọng các nhóm dễ gặp khó khăn trong tiếp cận công nghệ.
Đưa người dân vào trung tâm của hệ sinh thái số
Nếu nhìn tổng thể, Kế hoạch 303 của Bắc Ninh không tách biệt khỏi các chương trình chuyển đổi số đang triển khai. Tiến độ thực hiện cũng được chia thành những mốc khá cụ thể. Từ ngày 15/8 đến 30/9/2026, tỉnh yêu cầu hoàn thành rà soát, đề xuất phương án tái cấu trúc và tích hợp chữ ký số công cộng đối với thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền, ưu tiên những thủ tục thiết yếu, có tần suất giao dịch cao. Từ 30/9 đến 15/12/2026 là giai đoạn triển khai đồng bộ các nhiệm vụ và hoàn thành các chỉ tiêu năm 2026. Từ 15/12/2026 đến 28/2/2027 tiếp tục duy trì, nâng cao chất lượng thực hiện chính sách và tổng kết tình hình thực hiện Nghị quyết số 66.22/2026/NQ-CP của Chính phủ về phát triển công dân số .
Giai đoạn 2027-2030, trọng tâm chuyển sang nâng cao chất lượng công dân số, mở rộng phổ cập danh tính số, kỹ năng số và tài khoản số gắn. Đến năm 2030, đích đến được Bắc Ninh xác định không phải đơn thuần là tỷ lệ người dân có tài khoản điện tử. Tỉnh hướng tới mỗi người dân có danh tính số, phương tiện số, kỹ năng số và tài khoản số; VNeID trở thành kênh giao tiếp chính thức, thống nhất giữa người dân với chính quyền, doanh nghiệp và giữa người dân với nhau; đồng thời người dân được bảo vệ an toàn và có khả năng chủ động thụ hưởng thành quả chuyển đổi số.
Đó cũng là điểm cốt lõi để phân biệt giữa số hóa người dùng và phát triển công dân số. Một người có tài khoản VNeID chưa mặc nhiên trở thành công dân số theo nghĩa đầy đủ. Danh tính điện tử cần được kết nối với dữ liệu; dữ liệu cần gắn với dịch vụ; dịch vụ phải đủ thuận tiện để được sử dụng; người dân cần có kỹ năng để khai thác và phải được bảo vệ khi hoạt động trên môi trường mạng. Đây chính là chìa khóa để Bắc Ninh hiện thực hóa mục tiêu xây dựng xã hội số toàn diện và bền vững trong giai đoạn 2026-2030.
