5 bài toán định hình tương lai Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh
Phát triển thành đô thị công nghệ cao không chỉ đòi hỏi hạ tầng hiện đại mà còn cần ngành công nghiệp dẫn dắt, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST), năng lực xuất khẩu công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là những vấn đề trọng tâm được lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh (TP. HCM) đặt ra đối với Khu Công nghệ cao TP. HCM (SHTP), cùng bài toán lựa chọn nguồn vốn cho giai đoạn mở rộng.
Ngày 16/10/2026, Ban Quản lý SHTP tổ chức Hội nghị quốc tế thường niên lần thứ 8 năm 2026, kết hợp Ngày Nghiên cứu và ĐMST Vùng Đông Nam Bộ, với chủ đề “Đô thị công nghệ cao - động lực tăng trưởng của TP.HCM trong kỷ nguyên mới”.
Chọn ngành “đầu kéo”, chuyển từ nhập khẩu sang xuất khẩu công nghệ
Tại hội nghị, ông Trương Minh Huy Vũ, Phó Chủ tịch UBND TP. HCM, cho biết sau 24 năm hình thành và phát triển, SHTP đã định hình không gian phát triển, thu hút các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hình thành doanh nghiệp (DN) Việt Nam tham gia chuỗi giá trị, phát triển các trung tâm ĐMST, phòng thí nghiệm trọng điểm và tăng cường liên kết với hệ sinh thái trường đại học (ĐH).
Theo ông Trương Minh Huy Vũ, đây là nền tảng để SHTP tiếp tục phát triển theo hướng đô thị công nghệ cao (CNC). Từ đó, 5 vấn đề then chốt cần các chuyên gia, nhà quản lý và DN cùng thảo luận.
Thứ nhất, xác định các cụm ngành chủ lực có vai trò “đầu kéo” trong 5 năm tới.
Theo Phó Chủ tịch UBND TP. HCM, thành phố hiện có 9 ngành công nghiệp trọng điểm, nhưng cần cụ thể hóa những ngành có khả năng tạo động lực dẫn dắt tăng trưởng. Một số quốc gia đạt mức tăng trưởng hai con số nhờ các ngành công nghiệp dẫn dắt như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ số, gắn với động lực đô thị tiêu dùng dựa trên công nghệ.
Thứ hai, hình thành hệ sinh thái hội tụ nhiều chủ thể, gồm nhà nước, nhà khoa học, nhà DN và các bên liên quan.
Ông Trương Minh Huy Vũ cho rằng mục tiêu là thúc đẩy chia sẻ tri thức, đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm vào sản xuất và tiến tới sản xuất quy mô lớn, có khả năng thương mại hóa. Đây là điều kiện thành công của các đô thị CNC.
Thứ ba, thúc đẩy xuất khẩu công nghệ, đồng thời tạo điều kiện để các DN mới tham gia chuỗi cung ứng tại SHTP.
Theo ông Trương Minh Huy Vũ, các nghị quyết của Trung ương đều yêu cầu tăng cường sự tham gia của DN Việt Nam vào chuỗi cung ứng. “Chúng ta bắt đầu bằng việc từ nhập khẩu công nghệ thành xuất khẩu công nghệ”.
Thứ tư, thu hút và giữ chân nhân tài.
Theo ông Trương Minh Huy Vũ, cần thay đổi tư duy trong việc thu hút chuyên gia đến làm việc tại SHTP, bởi họ không chỉ làm việc mà còn có nhu cầu sinh sống cùng gia đình. Vì vậy, bên cạnh chính sách đãi ngộ và đặt hàng, SHTP cần có hệ sinh thái phục vụ đời sống như bệnh viện, trường học, không gian văn hóa và giải trí. Đây là những yếu tố nhằm tạo điều kiện để chuyên gia sinh sống và làm việc lâu dài.

Thứ năm, lựa chọn nguồn vốn đầu tư cho phần mở rộng SHTP với diện tích 200 ha.
Phó Chủ tịch UBND TP.HCM yêu cầu SHTP lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp cho các dự án, có thể là đầu tư công, đầu tư tư nhân hoặc vốn mạo hiểm.
Ông Nguyễn Kỳ Phùng, Trưởng ban Quản lý SHTP, nhấn mạnh đô thị CNC không chỉ là nơi tập trung nhà máy, phòng thí nghiệm hay hạ tầng số hiện đại. Quan trọng hơn, đây là không gian kết nối tri thức với sản xuất, nghiên cứu với thị trường, nguồn lực trong nước với mạng lưới công nghệ toàn cầu.
"Giá trị của mô hình này không chỉ nằm ở quy mô đầu tư hay số lượng DN, mà còn ở năng lực tạo ra và làm chủ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, mức độ đổi mới của DN và giá trị gia tăng cho nền kinh tế", ông Nguyễn Kỳ Phùng cho hay.
Đưa công nghệ vào giải bài toán đô thị
PGS. TS. Lâm Quang Vinh, Trưởng ban Khoa học và Công nghệ, ĐH Quốc gia TP. HCM cho rằng mật độ hoạt động kinh tế cao khiến TP. HCM có thị trường lớn cho các giải pháp công nghệ, nhưng đồng thời gia tăng áp lực lên giao thông, cấp thoát nước. Mỗi hạn chế trong vận hành đô thị đều làm tăng chi phí cho DN và người dân, ngược lại, mỗi cải tiến hiệu quả có thể tạo lợi ích trên quy mô lớn.
Theo PGS. TS. Lâm Quang Vinh, các bài toán đô thị mang tính liên ngành, liên vùng. Chẳng hạn, ngập nước liên quan đến khí tượng, thủy văn, quy hoạch và hệ thống thoát nước; ùn tắc giao thông gắn với sử dụng đất, vận tải công cộng, logistics và hành vi di chuyển. Vì vậy, nghiên cứu riêng lẻ hay một thiết bị đơn lẻ khó giải quyết toàn diện vấn đề.
Ông cho rằng cần kết nối ba cấp độ: làm chủ tri thức và công nghệ nền tảng, phát triển sản phẩm phù hợp với điều kiện địa phương và tổ chức ứng dụng trên quy mô đủ lớn. Việc lựa chọn công nghệ chiến lược phải gắn với nhiệm vụ ưu tiên, trong đó AI và dữ liệu hỗ trợ dự báo, tối ưu, ra quyết định; vi mạch, cảm biến và Internet vạn vật (IoT) phục vụ quan trắc.
Trên cơ sở đó, PGS. TS. Lâm Quang Vinh đề xuất ưu tiên ứng dụng công nghệ vào giao thông, logistics thông minh, chống ngập, quản lý tài nguyên nước, giám sát hạ tầng và bảo đảm an toàn đô thị.

Với giao thông, việc tích hợp dữ liệu, AI dự báo lưu lượng và cảm biến có thể hỗ trợ điều khiển tín hiệu, phát hiện sự cố, tổ chức vận tải công cộng và tối ưu vận chuyển hàng hóa. Bản sao số, tức mô hình số được cập nhật bằng dữ liệu thực tế, cũng giúp thử nghiệm các kịch bản tổ chức giao thông trước khi triển khai thực tế.
Đối với chống ngập, PGS. TS. Lâm Quang Vinh đề xuất kết hợp cảm biến mưa, mực nước với mô hình thủy văn và AI dự báo để cảnh báo sớm, xác định phạm vi ngập, hỗ trợ vận hành trạm bơm và cửa điều tiết. Các giải pháp xử lý, tái sử dụng nước cũng cần được thử nghiệm về độ ổn định, chi phí và khả năng bảo trì.
Theo PGS. TS. Lâm Quang Vinh, việc đánh giá hiệu quả cần dựa trên các chỉ tiêu cụ thể như thời gian và độ chính xác cảnh báo, thời gian ngập, chất lượng nước và chi phí xử lý.
GS. Chang-Hee Hong, Trường ĐH Quốc gia Jeonbuk (Hàn Quốc) cho rằng, Việt Nam cần xác định rõ ưu tiên chiến lược và xây dựng hệ thống đào tạo nhân lực phù hợp với từng giai đoạn phát triển của ngành bán dẫn.
Từ kinh nghiệm Hàn Quốc, GS. Chang-Hee Hong trao đổi Việt Nam không nhất thiết phải bắt đầu từ những công đoạn phức tạp nhất. Hàn Quốc từng khởi đầu từ lắp ráp, kiểm thử và đóng gói chip (ATP), thay vì chế tạo chip tiên tiến vốn đòi hỏi vốn và công nghệ lớn. Hướng đi này giúp hình thành đội ngũ kỹ thuật, tích lũy năng lực sản xuất và học hỏi công nghệ thông qua hợp tác quốc tế. Theo đó, Việt Nam cần ưu tiên nâng cao năng lực cạnh tranh ở khâu ATP trước khi từng bước tiến tới các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn./.
