Ý kiến chuyên gia

Phát triển nghiên cứu trong trường đại học: Bắt đầu từ cơ chế, chính sách

TS. Lê Văn Út, Viện trưởng Viện Đo lường khoa học và Chính sách quản trị nghiên cứu (SARAP), Trường Đại học Hoa Sen 24/07/2026 07:44

Sau khi các chủ trương phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST&CĐS) đã được thể chế hóa, vấn đề đặt ra đối với các trường đại học là làm thế nào để chuyển hóa các chủ trương đó thành kết quả nghiên cứu thực chất. Từ góc nhìn quản trị nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích vai trò của cơ chế, chính sách và nghiên cứu về đo lường khoa học và chính sách quản trị nghiên cứu trong phát triển nghiên cứu khoa học ở các trường đại học.

Cơ chế, chính sách là vấn đề then chốt

Trong phát triển KHCN, ĐMST&CĐS, chủ trương lớn là điều kiện định hướng, thể chế là nền tảng pháp lý, còn cơ chế và chính sách là điều kiện để các mục tiêu đi vào thực tiễn. Điều này có thể thấy khá rõ từ Thông báo số 20-TB/CQTTBCĐ ngày 16/3/2026 (TB20) về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại phiên họp lần thứ nhất năm 2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển KHCN, ĐMST&CĐS.

Phát triển nghiên cứu khoa học (NCKH) không thể chỉ dừng ở mục tiêu, khẩu hiệu hay quyết tâm chính trị. Sau khi chủ trương đã được xác lập và thể chế hóa, vấn đề tiếp theo có ý nghĩa quyết định là cơ chế, chính sách. Cơ chế giúp xác định cách vận hành, còn chính sách giúp xác định các ưu tiên, biện pháp hỗ trợ, khuyến khích và điều tiết nguồn lực để mục tiêu phát triển có thể trở thành kết quả thực tế.

Từ chủ trương được thể chế hóa đến cơ chế, chính sách trong trường đại học

Đối với các trường đại học, các chủ trương lớn về phát triển KHCN, ĐMST&CĐS và giáo dục đại học đã được thể hiện trong nhiều nghị quyết, luật và văn bản pháp lý quan trọng. Các chủ trương này đã và đang được thể chế hóa thông qua Luật Giáo dục Đại học, Luật KHCN&ĐMST, cùng các văn bản hướng dẫn thi hành.

Tuy nhiên, từ chủ trương quốc gia đến kết quả nghiên cứu trong từng trường đại học là một quá trình không tự động diễn ra. Luật pháp có thể mở ra không gian phát triển, nhưng mỗi trường đại học phải chuyển hóa không gian đó thành các cơ chế, chính sách và quy định nội bộ phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường. Nếu thiếu cơ chế vận hành và chính sách triển khai, các mục tiêu NCKH rất dễ dừng lại ở văn bản, kế hoạch hoặc chỉ tiêu hình thức.

Do đó, ở cấp trường đại học, câu hỏi quan trọng không chỉ là “có phát triển NCKH hay không”, mà là “phát triển bằng cơ chế nào, chính sách nào, nguồn lực nào, trách nhiệm nào và hệ thống đo lường nào”. Một trường đại học muốn phát triển NCKH bền vững phải có cách làm rõ ràng, có chính sách đủ mạnh, có quy định cụ thể và có hệ thống đánh giá kết quả phù hợp.

Theo đó, mỗi trường đại học cần căn cứ vào nguồn lực, tầm nhìn, sứ mệnh, ngành nghề đào tạo, năng lực đội ngũ và vị thế học thuật hiện tại để xác lập mục tiêu phát triển NCKH.

Có trường có thể đặt mục tiêu tăng số lượng và chất lượng công bố quốc tế. Có trường ưu tiên hình thành nhóm nghiên cứu, chương trình nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu hay viện nghiên cứu. Có trường tập trung vào nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp hoặc phục vụ cộng đồng. Có trường đặt mục tiêu gắn nghiên cứu với việc xây dựng nội lực phát triển bền vững, đồng thời đo lường thành tựu nghiên cứu thông qua các kết quả cụ thể, trong đó có xếp hạng đại học và quốc tế hóa học thuật. Mỗi mục tiêu khác nhau sẽ đòi hỏi cơ chế và chính sách khác nhau.

Từ mục tiêu đó, mỗi trường đại học cần nghiên cứu cơ chế phù hợp để đạt được mục tiêu đã đề ra. Cơ chế ở đây là cách vận hành cụ thể: giao nhiệm vụ nghiên cứu như thế nào, phân bổ kinh phí ra sao, giảm tải giờ giảng cho người làm nghiên cứu thế nào, đầu tư cho các đơn vị nghiên cứu theo nguyên tắc nào, đánh giá kết quả bằng chỉ số gì, trách nhiệm của khoa, viện, phòng ban và cá nhân được xác định ra sao.

Cùng với việc thiết kế cơ chế là việc xây dựng chính sách. Nếu cơ chế trả lời câu hỏi “hệ thống vận hành như thế nào”, thì chính sách xác định “ưu tiên gì, hỗ trợ ai, khuyến khích điều gì, đầu tư vào đâu và kiểm soát rủi ro ra sao”. Chính sách phát triển NCKH trong trường đại học vì vậy không nên chỉ thu hẹp vào chính sách thưởng bài báo, mà cần bao gồm chính sách phát triển đội ngũ, hỗ trợ người nghiên cứu trẻ, thu hút chuyên gia, phát triển các đơn vị nghiên cứu, hỗ trợ người học tham gia nghiên cứu, bảo đảm liêm chính nghiên cứu, tuân thủ đạo đức nghiên cứu, thúc đẩy chuyển giao các kết quả nghiên cứu và nâng cao chất lượng công bố khoa học.

Quy định nội bộ là con đường cụ thể hóa cơ chế, chính sách

Cơ chế và chính sách chỉ thật sự có giá trị khi được cụ thể hóa bằng hệ thống quy định nội bộ. Trong quản trị NCKH, quy định không chỉ là văn bản hành chính. Nếu được thiết kế đúng, quy định chính là công cụ quản trị để biến mục tiêu nghiên cứu thành hành động có trách nhiệm, có nguồn lực, có kết quả và có thể đo lường được.

Các quy định về công bố và nghiệm thu sản phẩm nghiên cứu, xếp hạng sản phẩm khoa học, thưởng nghiên cứu, quản lý đề tài nghiên cứu, phát triển các đơn vị nghiên cứu, bổ nhiệm nhà khoa học, bảo đảm liêm chính nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu, và nhiều quy định liên quan khác đều có thể trở thành các công cụ quan trọng để thúc đẩy NCKH trong trường đại học.

Vì vậy, quy định nội bộ không nên được xem là thủ tục sau cùng, mà là mắt xích quyết định trong chuỗi chuyển hóa từ mục tiêu sang kết quả. Một mục tiêu nghiên cứu tốt nhưng không có quy định triển khai phù hợp thì khó đi vào thực tế. Một cơ chế đúng nhưng không được cụ thể hóa thành quy trình, tiêu chí, trách nhiệm và quyền lợi rõ ràng thì cũng khó tạo ra chuyển biến. Ngược lại, một hệ thống quy định được thiết kế tốt có thể giúp nhà trường huy động nguồn lực, tạo động lực, kiểm soát rủi ro và đo lường tiến bộ một cách hiệu quả hơn.

Thực tiễn quốc tế: Các nước dẫn đầu đầu tư mạnh cho SARAP

Thực tiễn quốc tế cho thấy nhiều quốc gia có sản lượng NCKH hàng đầu thế giới không chỉ quan tâm đến xây dựng đội ngũ khoa học, phòng thí nghiệm, công nghệ, sáng chế hay công bố quốc tế, mà còn có hoạt động nghiên cứu mạnh về đo lường khoa học và chính sách quản trị nghiên cứu (Scientometrics and Research Administration Policies - SARAP). Đây là nhóm lĩnh vực liên quan đến việc phát triển các công cụ đo lường thành tựu nghiên cứu, xây dựng các chính sách quản trị nghiên cứu, trong đó có việc kiểm soát các rủi ro trong hoạt động NCKH.

Theo dữ liệu Scopus được trích xuất ngày 21/6/2026, trong giai đoạn 2021 - 2026, thế giới đã công bố 714.478 bài báo thuộc các lĩnh vực của SARAP, gồm đo lường khoa học (scientometrics), chính sách nghiên cứu (research policy), chính sách quản trị nghiên cứu (research administration policy) và đánh giá nghiên cứu (research evaluation).

ut1.png
Theo dữ liệu Scopus được trích xuất ngày 21/6/2026, trong giai đoạn 2021 - 2026, thế giới đã công bố 714.478 bài báo thuộc các lĩnh vực của SARAP. (Ảnh: TG)

Trong đó, số lượng công bố của Trung Quốc chiếm 24,1% tổng số công bố, tiếp theo là Hoa Kỳ với 16%, Ấn Độ với 8,1% và Vương quốc Anh với 7,8%. Đáng chú ý, trong khu vực Đông Nam Á, Malaysia có tỷ trọng đóng góp cao nhất, đạt 2%. Trong khi đó, Việt Nam chỉ đóng góp 0,75%, thấp hơn Trung Quốc khoảng 32 lần.

Những số liệu này gợi ra một vấn đề rất đáng suy nghĩ. Trung Quốc không chỉ nổi lên mạnh mẽ về số lượng công bố khoa học, sáng chế và thành tựu công nghệ, mà còn đang dẫn đầu thế giới về tỷ trọng công bố cao trong các lĩnh vực thuộc SARAP. Tương tự, Malaysia hiện dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về số lượng công bố khoa học trong các cơ sở dữ liệu khoa học có uy tín, đồng thời cũng có tỷ trọng công bố cao nhất trong khu vực đối với các lĩnh vực SARAP.

Điều đó cho thấy, muốn phát triển KHCN, ĐMST thì không thể chỉ tập trung vào các kết quả đầu ra. Các quốc gia và cơ sở giáo dục đại học còn phải đầu tư cho năng lực thiết kế hệ thống, năng lực đo lường, năng lực đánh giá và năng lực xây dựng chính sách nghiên cứu. Nói ngắn gọn, muốn phát triển nghiên cứu một cách thực chất và bền vững thì cần đầu tư cho nghiên cứu SARAP.

Đối với Việt Nam, việc chỉ đóng góp 0,75% số bài báo trong cùng lĩnh vực SARAP và cùng giai đoạn cho thấy khoảng trống rất lớn về nghiên cứu đo lường khoa học và chính sách quản trị nghiên cứu. Đây là khoảng trống cần được nhìn nhận nghiêm túc, nhất là trong bối cảnh các trường đại học đang được kỳ vọng đóng vai trò quan trọng hơn trong phát triển KHCN, ĐMST&CĐS và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

SARAP - Năng lực cần thiết của trường đại học hiện đại

Mỗi trường đại học có đặc thù riêng, nguồn lực riêng, mục tiêu riêng, cơ chế riêng và chính sách riêng. Vì vậy, không thể áp dụng máy móc một mô hình phát triển NCKH giống nhau cho tất cả các trường. Điều các trường đại học cần không chỉ là sao chép mô hình bên ngoài, mà là năng lực tự nghiên cứu, tự đo lường, tự đánh giá và tự thiết kế cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện của mình.

Đó chính là lý do các trường đại học rất cần SARAP, tức đo lường khoa học và chính sách quản trị nghiên cứu. SARAP không chỉ là một lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu, mà còn là nền tảng hỗ trợ quản trị đại học hiện đại. Một bộ phận hoặc chương trình chuyên trách về SARAP trong trường đại học có thể giúp nhà trường phân tích dữ liệu nghiên cứu, đánh giá kết quả, thiết kế cơ chế, đề xuất chính sách, xây dựng quy định, kiểm soát rủi ro liêm chính và hỗ trợ hoạch định chiến lược phát triển nghiên cứu.

Thực tiễn cho thấy, nếu có mục tiêu đúng, chiến lược tốt, cơ chế phù hợp và chính sách đủ mạnh thì khả năng đạt được mục tiêu nghiên cứu sẽ cao hơn, đồng thời giúp tiết kiệm nguồn lực hơn rất nhiều. Ngược lại, nếu thiếu nghiên cứu chính sách và thiếu đo lường khoa học, các trường đại học rất dễ đầu tư dàn trải, ban hành chính sách không phù hợp, đặt chỉ tiêu thiếu cơ sở hoặc đánh giá kết quả không đúng bản chất.

Do đó, các trường đại học muốn phát triển NCKH hiệu quả cần có cơ chế, chính sách hiện đại và phù hợp. Muốn có cơ chế, chính sách hiện đại và phù hợp thì phải đầu tư cho nghiên cứu về SARAP. Đây cũng là tinh thần phù hợp với TB20, trong đó các thuật ngữ “cơ chế” và “chính sách” được nhắc lại nhiều lần như những nền tảng quan trọng để phát triển KHCN, ĐMST&CĐS đi vào thực chất.

Phát triển nghiên cứu bắt đầu từ năng lực thiết kế cơ chế, chính sách

Phát triển NCKH trong trường đại học không chỉ bắt đầu từ khát vọng, chỉ tiêu hay lời kêu gọi. Sau khi các chủ trương lớn đã được thể chế hóa, điểm bắt đầu quan trọng ở cấp trường chính là cơ chế và chính sách. Cơ chế giúp mục tiêu có đường đi; chính sách giúp nguồn lực được huy động; quy định giúp việc triển khai có căn cứ; còn SARAP giúp nhà trường biết thiết kế, đo lường và điều chỉnh hệ thống phát triển nghiên cứu của mình một cách khoa học hơn.

ut2.jpg
Viện SARAP do Trường Đại học Hoa Sen thành lập được kỳ vọng sẽ kiên trì theo đuổi tinh thần cốt lõi: Dữ liệu phải phục vụ cho cải tiến, đo lường thì phải gắn với liêm chính, chính sách thì phải dựa trên bằng chứng và thành tích thì phải phản ánh được năng lực thật. (Ảnh: TG)

Trong xu hướng phát triển nêu trên, đặc biệt là các định hướng từ Nghị quyết 57, Trường Đại học Hoa Sen (HSU) đã và đang triển khai một cách hệ thống các hoạt động phát triển KHCN, ĐMST&CĐS dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Hiệu trưởng.

Một trong những bước đi đầu tiên là tổ chức nghiên cứu chuyên sâu về SARAP, từ đó xây dựng và ban hành Quy chế quản lý hoạt động NCKH cùng ít nhất 10 quy định hướng dẫn chi tiết về quản lý, phát triển, đánh giá, liêm chính nghiên cứu, đạo đức nghiên cứu và chuyển giao kết quả nghiên cứu chỉ trong vòng 3 tháng. Những nền tảng quản trị này không chỉ góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu nội tại mà còn tạo lập môi trường học thuật minh bạch, chuyên nghiệp, qua đó tăng cường khả năng thu hút các nhà khoa học uy tín trong và ngoài nước tham gia hoạt động nghiên cứu tại HSU./.

TS. Lê Văn Út, Viện trưởng Viện Đo lường khoa học và Chính sách quản trị nghiên cứu (SARAP), Trường Đại học Hoa Sen