Đổi mới sáng tạo

Trường Đại học Quy Nhơn: Đưa kết quả nghiên cứu vào giải quyết bài toán thực tiễn

Hữu Bằng 21/07/2026 08:08

Từ hormone tái tổ hợp, phân bón nano, phục tráng nguồn gen lúa nếp đến xử lý nước nuôi tôm, các nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Quy Nhơn đang hướng hoạt động khoa học vào những vấn đề cụ thể của y sinh, nông nghiệp và môi trường. Các kết quả bước đầu cho thấy tiềm năng hình thành sản phẩm, quy trình và giải pháp có khả năng ứng dụng, chuyển giao.

Nghiên cứu khoa học trong trường đại học chỉ thực sự tạo ra tác động khi tri thức được chuyển hóa thành giải pháp cho đời sống và sản xuất. Theo định hướng đó, Trường Đại học Quy Nhơn tập trung triển khai các nhiệm vụ gắn với nhu cầu của địa phương và khu vực miền Trung - Tây Nguyên, đồng thời chú trọng công bố khoa học, sở hữu trí tuệ và khả năng chuyển giao kết quả nghiên cứu.

Hướng tới làm chủ công nghệ hormone tái tổ hợp

Trong lĩnh vực công nghệ sinh học và y sinh, dự án “Sản xuất các gonadotropin chuỗi đơn để điều trị sinh sản” do PGS.TSKH Nguyễn Thị Mộng Điệp chủ nhiệm, Trường Đại học Quy Nhơn chủ trì và Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VinIF) tài trợ, tập trung phát triển hai hormone tái tổ hợp hFSH và eCG chuỗi đơn.

Theo thông tin của nhóm nghiên cứu, hai hormone được tạo ra ở quy mô nghiên cứu có hoạt tính sinh học tương đương hormone tự nhiên. Kết quả này mở ra triển vọng phát triển nguồn nguyên liệu phục vụ các nghiên cứu và sản phẩm hỗ trợ sinh sản ở người, đồng thời kiểm soát sinh sản trong chăn nuôi, qua đó góp phần giảm phụ thuộc vào nguồn hormone tự nhiên và sản phẩm nhập khẩu.

Dự án đã hoàn thiện quy trình sản xuất ở quy mô nghiên cứu, tạo hai sản phẩm hormone tiềm năng, nộp một đơn đăng ký sáng chế tại Pháp và công bố hai bài báo thuộc danh mục Web of Science nhóm Q1 cùng một bài báo thuộc Scopus. Để tiến tới ứng dụng, các kết quả cần tiếp tục được đánh giá về độ an toàn, hiệu lực, khả năng mở rộng quy mô và yêu cầu quản lý chuyên ngành.

Khai thác nguồn lực địa phương cho nông nghiệp bền vững

Một hướng nghiên cứu khác khai thác nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương để phát triển sản phẩm phục vụ nông nghiệp. Đề tài “Nghiên cứu tổng hợp phân bón thế hệ mới nano đất hiếm/silica trên cơ sở nguồn quặng monazite và quặng cát Bình Định” do PGS.TS Cao Văn Hoàng chủ trì đã xây dựng quy trình tổng hợp vật liệu nano đất hiếm/silica và định hướng ứng dụng cho một số cây trồng chủ lực.

Kết quả nghiên cứu cho thấy vật liệu có tiềm năng hỗ trợ quá trình quang hợp, hấp thu dinh dưỡng và nâng cao khả năng chống chịu của cây trồng trước một số điều kiện bất lợi. Hướng nghiên cứu này được kỳ vọng góp phần giảm lượng phân bón hóa học, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và hạn chế tác động môi trường. Đề tài đồng thời tạo ra quy trình công nghệ có khả năng tiếp tục hoàn thiện để chuyển giao, cùng các công bố khoa học và kết quả sở hữu trí tuệ.

DH Quy Nhon
Hoạt động nghiên cứu, khảo nghiệm các giải pháp phục vụ nông nghiệp bền vững là một trong những hướng được Trường Đại học Quy Nhơn chú trọng. Ảnh: QNU.

Bảo tồn nguồn gen, nâng cao giá trị nông sản

Bên cạnh phát triển sản phẩm mới, các nhà khoa học của Trường Đại học Quy Nhơn còn tham gia bảo tồn và khai thác nguồn gen bản địa. Đề tài phục tráng hai giống nếp đặc sản của Quảng Ngãi là nếp Ngự Sa Huỳnh và nếp Cút do TS Nguyễn Thanh Liêm chủ nhiệm đã khảo sát 120 hộ dân, thu thập 200 mẫu giống và ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử kết hợp điện di protein để định danh, chọn lọc nguồn vật liệu.

Từ quá trình đánh giá, nhóm nghiên cứu tuyển chọn được bốn dòng nếp G2 ưu tú cho mỗi giống và sản xuất 600 kg giống siêu nguyên chủng đạt tiêu chuẩn quốc gia. Theo báo cáo của đề tài, nếp Ngự Sa Huỳnh đạt năng suất khoảng 4,82 tấn/ha, tăng hơn 40% so với nguồn giống ban đầu. Kết quả là cơ sở để tiếp tục nhân giống, tổ chức sản xuất, xây dựng thương hiệu và xem xét bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm đặc sản địa phương.

Định hướng nông nghiệp bền vững còn được triển khai qua Dự án số 3 “Nâng cao chất lượng, an toàn của bơ và sầu riêng bằng các giải pháp canh tác hiệu quả, bền vững” thuộc Chương trình IUC-QNU, với sự tham gia của các đối tác Bỉ và Việt Nam. Dự án tập trung vào đa dạng di truyền, tổ hợp ghép, thụ phấn, quản lý dinh dưỡng, sâu bệnh và ứng dụng chất kích thích sinh học.

Đến nay, nhóm nghiên cứu đã khảo sát các giống sầu riêng tại 18 tỉnh, thành phố; xây dựng 40 tổ hợp ghép giữa hai giống Ri6, Dona với 20 giống gốc ghép địa phương; đồng thời định danh một số chủng nấm gây bệnh, đánh giá khả năng kháng bệnh và xác định tổ hợp thụ phấn có triển vọng. Các dữ liệu này có thể hỗ trợ xây dựng quy trình canh tác phù hợp hơn với từng vùng sinh thái và yêu cầu chất lượng nông sản.

Giải pháp xử lý nước trong nuôi trồng thủy sản

Trong lĩnh vực môi trường, nhóm nghiên cứu do PGS.TS Nguyễn Thị Diệu Cẩm chủ trì đã phát triển công nghệ xử lý dư lượng kháng sinh và hóa chất trong nước nuôi tôm bằng tổ hợp vật liệu hấp phụ, xúc tác quang và công nghệ màng vi sinh chuyển động MBBR.

Theo kết quả thử nghiệm của đề tài, hệ thống ở quy mô pilot cho thấy khả năng xử lý các chất ô nhiễm mục tiêu và có triển vọng mở rộng tại vùng nuôi tôm tập trung. Nghiên cứu tạo ra một kết quả sở hữu trí tuệ cùng nhiều bài báo quốc tế thuộc nhóm Q1, Q2. Để triển khai rộng rãi, công nghệ cần tiếp tục được đánh giá trong điều kiện vận hành thực tế, làm rõ chi phí, độ ổn định và quy chuẩn kỹ thuật áp dụng.

Từ kết quả nghiên cứu đến khả năng chuyển giao

Các nhiệm vụ nêu trên cho thấy hoạt động nghiên cứu của Trường Đại học Quy Nhơn đang được tổ chức theo hướng gắn kết giữa giá trị học thuật và nhu cầu thực tiễn. Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở số lượng công bố khoa học, mà còn ở việc hình thành sản phẩm thử nghiệm, quy trình công nghệ, nguồn gen được phục tráng và các kết quả sở hữu trí tuệ.

Để những kết quả này tạo ra tác động kinh tế - xã hội rõ nét hơn, bước tiếp theo là tăng cường kiểm chứng độc lập, chuẩn hóa quy trình, xác định mức độ sẵn sàng công nghệ, hoàn thiện hồ sơ sở hữu trí tuệ và kết nối với doanh nghiệp, địa phương. Khi chuỗi nghiên cứu - thử nghiệm - chuyển giao được tổ chức đồng bộ, trường đại học có thể phát huy tốt hơn vai trò trung tâm tri thức, góp phần giải quyết các bài toán phát triển của khu vực và đất nước./.

Hữu Bằng