Đổi mới sáng tạo

Chiến lược nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR) các mỏ dầu khí của liên doanh Việt-Nga Vietsovpetro

ThS. Vũ Mai Khanh, TS. Nguyễn Lâm Anh, TS. Hồ Nam Chung, ThS. Vũ Văn Khương, TS. Phí Mạnh Tùng, KS. Phùng Mỹ Anh, ThS. Bùi Tuấn Anh (Liên doanh Việt-Nga Vietsovpetro) 19/06/2026 09:20

Trong bối cảnh sản lượng khai thác dầu thô tại Lô 09-1 đang suy giảm tự nhiên với mức độ ngập nước gia tăng, việc triển khai các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR) trở thành nhiệm vụ chiến lược cấp thiết. Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro định hướng tập trung vào các giải pháp công nghệ tiên tiến nhằm tận thu tài nguyên, hướng tới mục tiêu gia tăng 8,5 triệu tấn dầu trong giai đoạn 2027-2050

Hiện trạng và tiềm năng áp dụng các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR) tại Lô 09-1

Tại Lô 09-1, LD Vietsovpetro đang khai thác các mỏ: Bạch Hổ, Rồng, Gấu Trắng, Thỏ Trắng, và Nam Rồng - Đồi Mồi. Trong đó mỏ Bạch Hổ được đưa vào khai thác sớm nhất từ năm 1986 tại đối tượng Mioxen dưới vòm Trung Tâm, sau đó lần lượt là mỏ Rồng đối tượng Miocen dưới khu vực Trung Tâm năm 1994, mỏ Nam Rồng - Đồi Mồi năm 2010 đối tượng Móng, mỏ Gấu Trắng khai thác đối tượng Miocen dưới năm 2012 và mỏ Thỏ Trắng đối tượng Oligocen trên năm 2013.

Untitled-1 copy
Hình 1. Sản lượng dầu khai thác theo các mỏ Lô 09-1 tại thời điểm 01/01/2026

Tổng sản lượng dầu khai thác đến hết năm 2025 là 253,8 triệu tấn, trong đó mỏ Bạch Hổ đóng góp phần lớn vào sản lượng khai thác chung toàn bộ Vietsovpetro với 227,3 triệu tấn chiếm 89,5%, mỏ Rồng là 21,9 triệu tấn chiếm 8,6%, mỏ Thỏ Trắng là 1,9 triệu tấn chiếm 0,8%, mỏ Gấu Trắng 1,3 triệu tấn chiếm 0,5%, mỏ Nam Rồng Đồi Mồi phần của Vietsovpetro là 1,5 triệu tấn chiếm 0,6% (Hình 1).

Sản lượng khai thác các mỏ tại Lô 09-1 đạt đỉnh vào năm 2002 với sản lượng đạt 13,5 tr.tấn dầu và giảm dần những năm sau đó. Hiện nay, sản lượng khai thác hàng năm của Lô 09-1 đạt khoảng 2,8 tr.tấn và có xu hướng suy giảm, mức độ ngập nước gia tăng nhanh chóng, tỷ lệ thành công trong công tác tìm kiếm và thăm dò thấp, các phát hiện dầu khí mới có trữ lượng nhỏ, hiệu quả từ các giải pháp địa chất - kỹ thuật ngày càng giảm (Hình 2). Trước tình hình này, nhiệm vụ nghiên cứu và áp dụng các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR) trở thành một yêu cầu cấp thiết nhằm duy trì sản lượng khai thác và tối ưu hóa việc khai thác các nguồn tài nguyên còn lại.

408-202606181709091.png
Hình 2. Động thái khai thác các mỏ Lô 09-1 đến thời điểm 01/01/2026

Theo kết quả tính toán tài nguyên dầu tại các mỏ thuộc Lô 09-1 cho thấy tài nguyên dầu còn lại khoảng 638 triệu tấn (Hình 3), trong đó đối tượng Móng là 370 triệu tấn chiếm 58% và trầm tích là 268 triệu tấn chiếm 42%. Ngoài ra, tại Lô 09-1 cơ sở hạ tầng kỹ thuật khá hoàn chỉnh cho thấy tiềm năng và cơ hội để áp dụng các giải pháp EOR, đặc biệt là tại mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng.

408-202606181709092.png
Hình 3. Tài nguyên dầu còn lại của các mỏ Lô 09-1

Các giải pháp EOR đã được nghiên cứu và áp dụng trên thế giới từ thập niên 1950 và ngày càng được áp dụng rộng rãi. Theo các thống kê, hiệu quả của các dự án EOR trên thế giới, tại các khu vực có điều kiện tương tự Lô 09-1 cho phép gia tăng hệ số thu hồi từ 3 đến 16% (Bảng 1). Đây cũng là xu hướng đang được các công ty khai thác dầu khí trên thế giới áp dụng rộng rãi, đặc biệt đối với các mỏ đang ở cuối giai đoạn khai thác.

Kinh nghiệm thế giới về triển khai các dự án EOR tại các mỏ dầu ngoài khơi với điều kiện địa chất và vận hành tương đồng với các mỏ thuộc Lô 09-1 là một yếu tố quan trọng cần được phân tích và tham khảo trong quá trình đánh giá tiềm năng của các đối tượng nghiên cứu tại Lô 09-1.

408-202606181709093.png
Bảng 1. Kết quả áp dụng EOR tại các mỏ ngoài khơi trên thế giới

Mỏ Bạch Hổ được đưa vào khai thác từ năm 1986, tiếp theo là mỏ Rồng (1994), Nam Rồng - Đồi Mồi (2010), Gấu Trắng (2012) và Thỏ Trắng (2013). Hiện nay, các mỏ này đều đang bước vào giai đoạn cuối của khai thác thứ cấp. Mặc dù các giải pháp gia tăng sản lượng (IOR) như bơm ép nước, gaslift và khoan đan dày đã được áp dụng rộng rãi, các công nghệ nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR) như bơm ép vi sinh hóa lý (VSHL), khí - nước luân phiên (WAG), polymer và chất hoạt tính bề mặt trước đây chủ yếu mới dừng ở quy mô phòng thí nghiệm, mô phỏng hoặc thử nghiệm nhỏ lẻ.

Trong giai đoạn 2000-2014, Vietsovpetro phối hợp với Viện Dầu khí Việt Nam, Công ty Hóa phẩm Dầu khí và Viện Khoa học Vật liệu Ứng dụng nghiên cứu, thử nghiệm các giải pháp EOR cho các đối tượng Miocen dưới, Oligocen và móng (Bảng 2). Kết quả cho thấy hệ số đẩy dầu gia tăng từ 3-10%, trung bình đạt 5,58%.

408-202606181709094.png
Bảng 2. Kết quả nghiên cứu thử nghiệm các giải pháp EOR tại LD Vietsovpetro giai đoạn trước 2014

Giai đoạn 2017-2021, Vietsovpetro hợp tác với Rhodia (Solvay) đánh giá khả năng áp dụng EOR tại tầng Miocen dưới mỏ Bạch Hổ. Kết quả cho thấy giải pháp Surfactant-Polymer đạt hiệu quả cao nhất, với hệ số đẩy dầu 30-45%, tương đương mức gia tăng hệ số thu hồi dầu từ 3-5%, tạo tiền đề cho các chương trình thử nghiệm tại các vòm Bắc, Trung tâm và Nam của mỏ Bạch Hổ.

Năm 2021, Vietsovpetro phối hợp với VPI nghiên cứu, thiết kế và thử nghiệm hệ hóa phẩm Surfactant-Polymer cho đối tượng Miocen dưới vòm Nam mỏ Bạch Hổ (BK-16). Trong quá trình thử nghiệm, 100 tấn hóa phẩm SP được bơm vào giếng 1609/BK16. Sau 6 tháng, sản lượng dầu tăng thêm 2,7 nghìn tấn và lợi nhuận sau thuế đạt 704,5 nghìn USD. Trên cơ sở kết quả tích cực này, Vietsovpetro tiếp tục xây dựng chương trình thử nghiệm mở rộng với quy mô hóa phẩm và thời gian bơm lớn hơn nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi dầu.

Hoạt động EOR tại Vietsovpetro được triển khai từ năm 2006. Nếu trước năm 2014 các nghiên cứu chủ yếu mang tính cục bộ, thì từ sau năm 2014 EOR đã trở thành một trong những định hướng nghiên cứu trọng tâm, song hành với mục tiêu khai thác an toàn, hiệu quả và gia tăng trữ lượng. Quá trình này được thực hiện với sự tham gia của nhiều đối tác nghiên cứu trong và ngoài nước như Rhodia Operation (Pháp), NMIMT-ESS (Mỹ), SNF (Pháp) và VNIINHEFT (Nga), tạo nền tảng cho việc triển khai các dự án EOR quy mô công nghiệp trong tương lai.

Định hướng chương trình áp dụng các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu tại Lô 09-1

Định hướng các bước thực hiện dự án EOR tại Lô 09-1

Để triển khai hiệu quả các dự án nâng cao hệ số thu hồi dầu (Enhanced Oil Recovery - EOR), việc xây dựng một quy trình nghiên cứu và áp dụng thống nhất là yêu cầu tiên quyết nhằm xác định rõ khối lượng công việc, kiểm soát rủi ro và tối ưu hiệu quả đầu tư. Thông thường, một dự án EOR cần khoảng 6-8 năm từ giai đoạn nghiên cứu đến khi triển khai trên quy mô toàn mỏ. Quy trình này bao gồm các bước chính: thu thập và phân tích dữ liệu địa chất - khai thác để sàng lọc đối tượng và lựa chọn công nghệ phù hợp; thực hiện các thí nghiệm trên mẫu lõi nhằm đánh giá tính tương thích và hiệu quả của tác nhân EOR; kiểm chứng kết quả bằng mô hình mô phỏng vỉa; đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật; thiết kế và triển khai dự án thử nghiệm ngoài thực địa; sau đó mở rộng áp dụng cho các khu vực có điều kiện tương tự khi kết quả thử nghiệm đạt yêu cầu.

408-202606181709095.png
Hình 4. Quy trình chuẩn để nghiên cứu và áp dụng các giải pháp EOR

Đối với các mỏ thuộc Liên doanh Vietsovpetro, công tác sàng lọc và lựa chọn giải pháp EOR cần đáp ứng đồng thời các tiêu chí về kỹ thuật, công nghệ, môi trường và kinh tế. Do đặc thù khai thác ngoài khơi với các đối tượng chứa dầu nằm ở độ sâu lớn, các yêu cầu kỹ thuật và vận hành nghiêm ngặt hơn đáng kể so với các dự án trên đất liền. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế và quá trình hợp tác với các đối tác công nghệ như Solvay, SNF, Schlumberger và Proprocess, Vietsovpetro định hướng rút ngắn thời gian triển khai từ 6-8 năm xuống còn 3-4 năm (Hình 5) nhằm sớm đưa công nghệ vào thực tiễn, tận dụng cơ sở hạ tầng hiện hữu và tối ưu chi phí đầu tư.

408-202606181709096.png
Hình 5. Định hướng quy trình nghiên cứu và áp dụng các giải pháp EOR tại LD Vietsovpetro

Định hướng lựa chọn các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu tại các mỏ Lô 09-1

Theo đánh giá đến hết năm 2025, tổng tài nguyên dầu mức 2P tại Lô 09-1 đạt khoảng 890 triệu tấn, trong khi sản lượng khai thác lũy kế đạt 253,8 triệu tấn. Lượng dầu còn lại ước tính khoảng 638 triệu tấn, gồm 370 triệu tấn trong đối tượng đá móng và 268 triệu tấn trong các tầng trầm tích. Trong trường hợp chỉ duy trì quỹ giếng hiện có và áp dụng các giải pháp địa kỹ thuật truyền thống như tối ưu bơm ép nước, gaslift hoặc khoan đan dày, tổng sản lượng khai thác đến năm 2050 dự kiến đạt khoảng 295 triệu tấn dầu. Điều này cho thấy việc áp dụng các giải pháp EOR là cần thiết để khai thác hiệu quả phần tài nguyên còn lại, đặc biệt tại các mỏ Bạch Hổ và Rồng.

Hiện nay, sản lượng khai thác của Lô 09-1 đạt khoảng 2,8 triệu tấn/năm và được dự báo giảm xuống còn 1,9-2 triệu tấn vào năm 2030. Bên cạnh đó, phần lớn các công trình khai thác đã hoạt động trên 20 năm, một số giàn khai thác đã vận hành hơn 40 năm. Trong bối cảnh đó, việc triển khai EOR không chỉ nhằm gia tăng sản lượng mà còn góp phần tận dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng hiện hữu.

Trên cơ sở các nghiên cứu đã thực hiện cùng các đối tác trong và ngoài nước, Vietsovpetro đã tiến hành đánh giá mức độ phù hợp của các giải pháp EOR đối với toàn bộ các đối tượng chứa dầu tại Lô 09-1. Kết quả cho thấy, đối với các tầng trầm tích, hai công nghệ có tiềm năng cao nhất là bơm ép Surfactant-Polymer và bơm khí - nước luân phiên (WAG/GAS) (Hình 6). Trong khi đó, đối với thân dầu đá móng, các công nghệ EOR hiện nay chưa cho thấy hiệu quả rõ rệt. Trước tình trạng áp suất vỉa suy giảm và độ ngập nước gia tăng, Vietsovpetro đang tập trung nghiên cứu giải pháp khai thác tiệm cận áp suất bão hòa nhằm nâng cao hệ số thu hồi dầu đối với đối tượng đặc thù này.

408-202606181709097.png
Hình 6. Tổng hợp kết quả đánh giá và xếp hạng các khu vực và đối tượng áp dụng EOR

Các tính toán hiện nay cho thấy tiềm năng dầu gia tăng từ EOR tại Lô 09-1 có thể đạt khoảng 8,5 triệu tấn trong giai đoạn 2027-2050. Đối với mỏ Bạch Hổ, các dự án thử nghiệm được kỳ vọng giúp tăng hệ số thu hồi dầu khoảng 2-3% và có thể cao hơn nếu đạt hiệu quả tương đương các dự án quốc tế, nơi mức gia tăng trung bình dao động từ 5-7%. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và thử nghiệm tại Bạch Hổ, Vietsovpetro sẽ xem xét mở rộng áp dụng cho các mỏ khác trong Lô 09-1.

Định hướng triển khai áp dụng các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu tại các mỏ Lô 09-1

Các đánh giá tổng thể cho thấy các mỏ thuộc Lô 09-1 hội tụ đầy đủ các điều kiện cần thiết để triển khai EOR, bao gồm nguồn tài nguyên còn lại lớn, điều kiện địa chất - khai thác phù hợp, kết quả nghiên cứu khả quan và kinh nghiệm thực tiễn từ các mỏ tương đồng trên thế giới. Đây là cơ sở quan trọng khẳng định tính khả thi của chương trình EOR tại Lô 09-1.

Trong số các mỏ hiện có, Bạch Hổ và Rồng được đánh giá là hai đối tượng có tiềm năng lớn nhất. Mỏ Bạch Hổ được lựa chọn là khu vực ưu tiên triển khai trong giai đoạn đầu nhờ quy mô tài nguyên lớn, lịch sử khai thác lâu dài và đã tích lũy nhiều kết quả nghiên cứu, thử nghiệm EOR. Đối với mỏ Rồng, trước mắt vẫn tập trung các giải pháp địa kỹ thuật và đưa các công trình mới vào khai thác để duy trì sản lượng, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc áp dụng EOR trong tương lai trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm từ mỏ Bạch Hổ.

Tại mỏ Thỏ Trắng, các giải pháp ưu tiên tập trung vào xử lý những khó khăn phát sinh trong quá trình khai thác như lắng đọng muối, khai thác đa vỉa, xác định ranh giới dầu - nước và hiện tượng chèn dòng. Việc giải quyết hiệu quả các vấn đề này sẽ góp phần nâng cao hệ số thu hồi dầu. Trong khi đó, mỏ Gấu Trắng có quy mô tài nguyên tương đối nhỏ và mức độ bất đồng nhất địa chất cao, thể hiện qua các kết quả nghiên cứu tracer tại giếng GT-9P. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu chi tiết về đặc trưng thấm chứa, liên thông thủy động và các công nghệ xử lý phức tạp khai thác trước khi xem xét triển khai EOR.

Mặc dù có nhiều thuận lợi, việc triển khai EOR ngoài khơi vẫn đối mặt với không ít thách thức. Chi phí đầu tư và vận hành cao, đặc biệt là chi phí vận chuyển và tổ chức thi công ngoài biển, tạo áp lực lớn đối với hiệu quả kinh tế của dự án. Bên cạnh đó, chi phí vận hành tại Lô 09-1 hiện đã vượt phần dầu để lại cho Liên doanh Vietsovpetro (35-45%), dẫn đến khó khăn trong việc bố trí nguồn vốn cho các chương trình EOR quy mô lớn.

Để duy trì sản lượng khai thác trong dài hạn, chương trình EOR của Vietsovpetro sẽ tập trung vào ba nhóm nhiệm vụ chính. Về giải pháp, ưu tiên rút ngắn thời gian nghiên cứu khả thi, xây dựng cơ chế chuyển giao công nghệ từ các dự án thử nghiệm và kiểm soát chặt chẽ toàn bộ quá trình triển khai nhằm tích lũy kinh nghiệm cho giai đoạn mở rộng. Về chiến lược, xác định EOR là định hướng dài hạn; phát triển nguồn nhân lực đủ năng lực làm chủ công nghệ; lựa chọn các giải pháp phù hợp để triển khai trên diện rộng; đồng thời tối ưu chi phí đầu tư và vận hành. Về chính sách, tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các cơ chế ưu đãi cho các dự án EOR nhằm nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên dầu khí, góp phần bảo đảm nguồn thu cho quốc gia và tạo động lực cho các nhà đầu tư hoạt động trên thềm lục địa Việt Nam.

Chương trình tổng thể triển khai các dự án EOR tại Lô 09-1

Thực hiện nghị quyết của Hội đồng 56, công tác nghiên cứu và áp dụng EOR tại các mỏ Lô 09-1 đã được triển khai đồng bộ, có hệ thống và mang tính chiến lược.

Chương trình tổng thể tổng thể áp dụng các giải pháp EOR tại Lô 09-1 được xây dựng và cập nhật thực hiện được thể hiện tại Hình 7. Việc triển khai thực hiện các dự án đến thời điểm hiện tại cụ thể như sau:

  • Dự án “Thử nghiệm bơm hợp chất Surfactant-Polymer cho đối tượng Miocene dưới Vòm Trung Tâm mỏ Bạch Hổ”: đang tiến hành xây dựng đầu bài, tổ chức đấu thầu và dự kiến thử nghiệm bắt đầu vào Quý III năm 2027.
  • Dự án “Thực hiện thử nghiệm bơm hợp chất Surfactant-Polymer tại mỏ Bạch Hổ”: đấu thầu và đã ký hợp đồng với Liên danh nhà thầu SNF-PVCHEM-VPI, dự kiến thử nghiệm bơm vào đầu Quý II năm 2026 và hiệu quả thu hồi dầu sẽ được nhận từ Quý II năm 2027.
  • Dự án “Áp dụng công nghệ bơm khí - nước luân phiên (WAG) tại khu vực Trung Tâm mỏ Bạch Hổ”: nghiên cứu đã hoàn tất, cho thấy công nghệ này có hiệu quả gia tăng sản lượng dầu, nhưng cần tiếp tục nghiên cứu đánh giá toàn diện về địa chất, thiết bị bơm và khả năng cung cấp khí.
  • Dự án “Phối hợp nghiên cứu chế tạo và ứng dụng hệ polyme ưa-kỵ nước kết hợp phụ gia nano biến tính, nhằm nâng cao thu hồi dầu trong công nghệ bơm ép tại các mỏ dầu tầng Miocene của Việt Nam”: kết hợp với Viện Hóa học – Vật liệu/Viện KH-CN quân sự đã chế tạo được hệ hóa phẩm, đã bơm thử nghiệm tại khu vực BK-21 (Quý I/2025) mỏ Bạch Hổ, đang theo dõi và đánh giá hiệu quả.
  • Dự án “Nghiên cứu tính khả thi và hiệu quả bơm Surfactant-Polymer nâng cao hệ số thu hồi dầu cho đối tượng Oligocen dưới mỏ Bạch Hổ”: công tác nghiên cứu đang được tiến hành với Liên danh nhà thầu OFS-SNF. Dự kiến thời điểm bắt đầu bơm thử nghiệm vào Quý III/2028.
  • Dự án “Thử nghiệm khai thác tiệm cận áp suất bão hòa thân dầu đá Móng tại Vòm Trung Tâm (khu vực BK-8,17) mỏ Bạch Hổ”: kết quả hiện tại cho thấy mang lại hiệu quả tích cực về gia tăng sản lượng khai thác, tuy nhiên áp suất vỉa suy giảm chậm nên cần tiếp tục thử nghiệm và đẩy nhanh việc trang bị ESP tại khu vực này. Đồng thời, đang tiến hành đàm phán ký hợp đồng với Liên danh nhà thầu VPI-VNIINEFT để thuê dịch vụ triển khai “Nghiên cứu tính khả thi và hiệu quả khai thác thân dầu đá móng mỏ Bạch Hổ Lô 09-1 ở chế độ tiệm cận/dưới áp suất bão hòa”.
  • Dự án “Nghiên cứu phương pháp đánh giá hiệu quả áp dụng EOR tại các mỏ Lô 09-1”: công tác nghiên cứu phương pháp luận đã hoàn thành và quy trình tính toán hiệu quả gia tăng thu hồi dầu đã được hình thành.
  • Dự án “Nghiên cứu và đánh giá các điều kiện ưu đãi để đảm bảo hiệu quả triển khai các dự án EOR cho các mỏ thuộc Vietsovpetro”: công tác nghiên cứu, đánh giá và đề xuất đã hoàn thành, và đã tổ chức hội thảo trình bày với các cơ quan chức năng liên quan.

LD Vietsovpetro đã xây dựng và thường xuyên cập nhật chương trình EOR tổng thể tại Lô 09-1, hiện tại đang tập trung cho các đối tượng mỏ Bạch Hổ (Hình 7). Chương trình EOR được thiết kế dựa trên các nghiên cứu trước đây do LD Vietsovpetro tự thực hiện cũng như từ kết quả nghiên cứu của các đề tài có sự tham gia của nhà thầu trong và ngoài nước như đã nêu ở trên, nhằm nhanh chóng đưa các khu vực đã nghiên cứu vào áp dụng và sớm nhận được dòng dầu gia tăng từ EOR.

408-202606181709098.png
Hình 7. Chương trình tổng thể tổng thể áp dụng các giải pháp EOR tại Lô 09-1

Kết luận

Sản lượng dầu khai thác Vietsovpetro trong những năm gần đây đang suy giảm, việc đưa bổ sung các khu vực mới vào khai thác gặp nhiều khó khăn. Tiềm năng áp dụng các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu ở các mỏ là rất lớn vì vậy nhiệm vụ nghiên cứu và áp dụng các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu, tân dụng tối đa mạng lưới các công trình, hệ thống công nghệ hiện có nhằm làm chậm lại đà suy giảm sản lượng Vietsovpetro trở nên vô cùng quan trọng và cần thiết

Việc áp dụng thành công các dự án EOR tại Vietsovpetro sẽ giúp tận thu nguồn tài nguyên dầu khí trong lòng đất, hứa hẹn sẽ mang lại những lợi ích kinh tế-xã hội to lớn và là các bài học kinh nghiệm quan trọng cho việc định hướng và thúc đẩy các hoạt động EOR trong toàn PetroVietnam. Tuy nhiên, ngoài việc nỗ lực của các Nhà đầu tư thì Nhà nước cũng cần có cơ chế khuyến khích/ưu đãi phù hợp đối với các dự án EOR./.

Tài liệu tham khảo

  1. IEA updates EOR project data, doubling output forecast, OGJ.Com, 2019.
  2. Báo cáo phân tích hiện trạng khai thác các mỏ thuộc Liên doanh Việt-Nga Vietsovpetro năm 2023.
  3. Báo cáo “Thiết kế khai thác thử công nghiệp thân dầu trong đá móng vòm Trung tâm mỏ Bạch Hổ” năm 1990. Lưu trữ Vietsovpetro.
  4. Báo cáo “Sơ đồ công nghệ khai thác và xây dựng mỏ Bạch Hổ” năm 1992. Lưu trữ Vietsovpetro.
  5. Báo cáo “Bổ sung sơ đồ công nghệ và xây dựng mỏ Bạch Hổ” năm 1993. Lưu trữ Vietsovpetro.
  6. Báo cáo “Chính xác hóa sơ đồ công nghệ khai thác và xây dựng và phát triển mỏ Bạch Hổ” năm 1998. Lưu trữ Vietsovpetro.
  7. Báo cáo “Sơ đồ công nghệ hiệu chỉnh khai thác và xây dựng mỏ Bạch Hổ” năm 2002. Lưu trữ Vietsovpetro.
  8. Báo cáo “Sơ đồ công nghệ khai thác và xây dựng mỏ Bạch Hổ hiệu chỉnh” năm 2007. Lưu trữ Vietsovpetro.
  9. Báo cáo “Sơ đồ công nghệ khai thác và xây dựng mỏ Bạch Hổ” năm 2012. Lưu trữ Vietsovpetro.
  10. Báo cáo “Kế hoạch phát triển mỏ Bạch Hổ Lô 09-1 điều chỉnh năm 2020” năm 2020. Lưu trữ Vietsovpetro.
  11. Nguyễn Chu Chuyên, Luận án tiến sĩ địa chất “Nghiên cứu độ thấm của móng Granit mỏ Bạch Hổ, chọn giá trị thích hợp phục vụ tính toán khai thác”, trường Đại học Mỏ-Địa chất, năm 2000.

ThS. Vũ Mai Khanh, TS. Nguyễn Lâm Anh, TS. Hồ Nam Chung, ThS. Vũ Văn Khương, TS. Phí Mạnh Tùng, KS. Phùng Mỹ Anh, ThS. Bùi Tuấn Anh (Liên doanh Việt-Nga Vietsovpetro)