Khoa học - Công nghệ

Đề xuất xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ các nhà khoa học nữ Việt Nam

PT 10/06/2026 19:10

Theo TS. BS. Nguyễn Thị Hương Giang, nếu được hỗ trợ đúng cách, kết nối đúng mạng lưới và trao cơ hội đúng tầm, các nhà khoa học nữ Việt Nam sẽ trở thành lực lượng tiên phong trong kiến tạo kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tri thức và mô hình phát triển nhân văn, bao trùm, bền vững cho Việt Nam.

Ngày 10/6/2026, tại Hà Nội, Hội Nữ trí thức Việt Nam phối hợp với Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN Women) tổ chức Hội thảo quốc tế “Nữ khoa học hướng tới thị trường: Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học trong nền kinh tế xanh và kinh tế số”, nhằm tìm kiếm các giải pháp giúp các nhà khoa học nữ đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, đóng góp cho đổi mới sáng tạo (ĐMST), chuyển đổi xanh và chuyển đổi số (CĐS) của Việt Nam.

439-202606101721171.jpg
Toàn cảnh Hội thảo.

Hội thảo thu hút hơn 180 đại biểu đến từ các cơ quan quản lý nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu, mạng lưới nữ trí thức, cộng đồng doanh nghiệp (DN), các quỹ đầu tư, đối tác phát triển, tổ chức quốc tế và Liên Hợp Quốc tham dự.

Gỡ rào cản để nhà khoa học nữ Việt Nam đưa tri thức ra thị trường

Phát biểu khai mạc Hội thảo, GS. TS. Lê Thị Hợp, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam cho biết, Hội thảo diễn ra trong bối cảnh đất nước đang quyết tâm triển khai các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, với Nghị quyết số 57-NQ/TW cùng Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KH,CN&ĐMST) đã khẳng định đây là những động lực then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng và đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

439-202606101721172.jpg
GS. TS. Lê Thị Hợp: Việc xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học, nữ trí thức toàn diện, đáp ứng giới và gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu - đổi mới - doanh nghiệp và thị trường là yêu cầu cấp thiết.

Nền kinh tế xanh và kinh tế số đang tạo ra những cơ hội phát triển to lớn, đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động nghiên cứu, ĐMST và chuyển giao công nghệ. Trong tiến trình đó, đội ngũ nữ tri thức khoa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Với gần một nửa lực lượng nghiên cứu và phát triển (R&D) của cả nước, các nhà khoa học nữ không chỉ góp phần tạo ra tri thức mới mà còn đóng góp tích cực vào việc giải quyết các thách thức về môi trường, xã hội và phát triển bền vững.

Vì vậy, việc xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học, nữ trí thức toàn diện, đáp ứng giới và gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu - đổi mới - DN và thị trường là yêu cầu cấp thiết. Đây không chỉ là giải pháp để phát huy tiềm năng của đội ngũ nữ khoa học mà còn là động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng xanh, ĐMST và phát triển bền vững của đất nước.

Hệ sinh thái đó cần được thiết kế như một chuỗi liên kết thông suốt giữa nghiên cứu KH,CN, ĐMST, DN, nhà đầu tư và thị trường; tạo điều kiện để các kết quả nghiên cứu không chỉ dừng lại ở các công bố khoa học mà có thể chuyển hóa thành sản phẩm, công nghệ, dịch vụ và các mô hình kinh doanh tạo ra giá trị cho xã hội.

Hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học không thể chỉ là tập hợp của các chính sách hay cơ chế hành chính đơn lẻ. Đó phải là một môi trường phát triển năng động, cởi mở và kết nối, nơi các nhà khoa học nữ được tiếp cận nguồn lực, được truyền cảm hứng, được đồng hành bởi các chuyên gia, DN và nhà đầu tư; đồng thời có cơ hội hiện thực hóa các ý tưởng sáng tạo, đưa các kết quả nghiên cứu đến với thị trường và cuộc sống.

Chia sẻ tại Hội thảo, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cho biết, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi cơ cấu mang tính quyết định. Trong đó, KH,CN, ĐMST và CĐS chính là những động lực trung tâm để đưa quốc gia phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế.

TSKH. Phan Xuân Dũng nhấn mạnh nguồn lực trí tuệ là yếu tố cốt lõi. "Các nữ khoa học Việt Nam, với sự thông minh, chăm chỉ, kiên trì, lòng say mê và cả những hy sinh thầm lặng đã và đang đóng góp những công trình nghiên cứu có giá trị cao cho xã hội".

439-202606101721173.jpg
TSKH. Phan Xuân Dũng: Các nhà khoa học nữ Việt Nam, với sự thông minh, chăm chỉ, kiên trì, lòng say mê và cả những hy sinh thầm lặng đã và đang đóng góp những công trình nghiên cứu có giá trị cao cho xã hội.

Tuy nhiên, theo TSKH. Phan Xuân Dũng, tiềm năng của các nhà khoa học nữ vẫn chưa được khai thác đầy đủ. Các nhà khoa học nữ vẫn đang phải đối mặt với nhiều rào cản mang tính hệ thống. Đặc biệt là khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường còn rất xa do thiếu cơ chế kết nối. Việc tiếp cận các nguồn hỗ trợ tài chính, các quỹ đầu tư và cơ chế hỗ trợ chuyên biệt còn nhiều hạn chế.

Bên cạnh đó, định kiến giới và gánh nặng công việc chăm sóc gia đình vô hình đã tạo ra những áp lực kép, hạn chế cơ hội bứt phá của các nhà khoa học nữ.

Theo Chủ tịch VUSTA, để giải phóng toàn diện sức sáng tạo và đưa sản phẩm của các nhà khoa học nữ "ra thị trường", chúng ta cần một Hệ sinh thái tích hợp và có đáp ứng giới. Hệ sinh thái đó bao gồm:

Thứ nhất, sự đồng bộ về chính sách. Cần tạo hành lang pháp lý thông thoáng, ưu tiên và khuyến khích các nghiên cứu do phụ nữ chủ trì, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế xanh và kinh tế số.

Thứ hai, cơ chế tài chính đột phá. Hình thành các quỹ hỗ trợ, thúc đẩy hợp tác công - tư (PPP) để bảo đảm nguồn vốn cho các giai đoạn thử nghiệm và thương mại hóa.

Thứ ba, sự thấu hiểu và sẻ chia. Xây dựng các mô hình quan tâm tới "kinh tế chăm sóc", giúp giảm tải gánh nặng gia đình để các nhà khoa học nữ an tâm cống hiến.

Đề xuất xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học Việt Nam gồm 5 trụ cột

Trên thế giới, khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa thường được gọi là “Thung lũng chết” (Valley of Death) - giai đoạn mà nhiều sáng kiến đầy tiềm năng không thể phát triển thành sản phẩm hoặc giải pháp thương mại.

Đối với các nhà khoa học nữ, khoảng cách này thường rộng hơn do các rào cản giới trong tiếp cận tài chính, cơ hội lãnh đạo, mạng lưới nghề nghiệp và gánh nặng công việc chăm sóc không được trả công.

Mặc dù phụ nữ chiếm 46% lực lượng R&D của Việt Nam, tuy nhiên, nhiều kết quả nghiên cứu do phụ nữ dẫn dắt vẫn gặp khó khăn trong quá trình thương mại hóa. Tỷ lệ phụ nữ làm chủ nhiệm các nhiệm vụ KH,CN chỉ đạt 25,5%, trong khi tỷ lệ phụ nữ được cấp bằng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và giống cây trồng chỉ dao động từ 13-20%.

Tại Hội thảo, các đại biểu nhấn mạnh thách thức lớn nhất không chỉ nằm ở việc tạo ra tri thức mới, mà còn ở việc giúp các nhà khoa học nữ tiếp cận các nguồn lực cần thiết để đưa tri thức đó vào cuộc sống. Nhiều nữ nhà khoa học vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư, các chương trình tăng tốc khởi nghiệp, dịch vụ tư vấn thương mại hóa, cơ hội hợp tác với DN và các mạng lưới ĐMST.

Chia sẻ về Chiến lược quốc gia về KH,CN&ĐMST, TS. BS. Nguyễn Thị Hương Giang, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ (KH&CN), Tổng biên tập Tạp chí KH&CN Việt Nam cho biết, Việt Nam xác định KH,CN, ĐMST&CĐS là động lực then chốt của tăng trưởng kinh tế.

Điều này được thể hiện rõ trong Chiến lược phát triển KH,CN&ĐMST đến năm 2030. Trọng tâm của Chiến lược không còn dừng ở việc xây dựng tiềm lực KH&CN mà hướng mạnh tới việc đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thị trường và đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế.

TS. BS. Nguyen Thi Huong Giang
TS. BS. Nguyễn Thị Hương Giang đề xuất xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học Việt Nam gồm 5 trụ cột.

Điểm nổi bật nhất của Chiến lược là việc xác định các công nghệ chiến lược và công nghệ lõi cần ưu tiên phát triển trong giai đoạn tới, trong đó có trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng sạch, hạ tầng dữ liệu và hạ tầng số quốc gia.

Đây được xem là những lĩnh vực có khả năng tạo ra bước nhảy vọt về năng suất, năng lực cạnh tranh và vị thế công nghệ của Việt Nam trong khu vực.

Những mục tiêu cụ thể được đặt ra cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của Việt Nam trong việc phát triển nền kinh tế dựa trên KH,CN, ĐMST và CĐS. Đến năm 2030, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%; tổng đầu tư R&D đạt tối thiểu 2% GDP; kinh tế số đóng góp ít nhất 30% GDP; tối thiểu 30% kết quả nghiên cứu từ các viện, trường được thương mại hóa.

Bên cạnh đó, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm ba quốc gia dẫn đầu ASEAN về AI và thu hút khoảng 1.000 lượt trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia các hoạt động khoa học công nghệ mỗi năm.

Trong quá trình triển khai Chiến lược, việc phát huy vai trò của phụ nữ và đội ngũ nhà khoa học nữ đặc biệt quan trọng. Trong nền kinh tế xanh và kinh tế số, phụ nữ không chỉ là lực lượng tham gia nghiên cứu mà còn cần trở thành những người kiến tạo, dẫn dắt, chuyển giao và lan tỏa tri thức vào thị trường.

Các lĩnh vực như AI, dữ liệu lớn, an ninh mạng, công nghệ sinh học, nông nghiệp xanh, năng lượng sạch hay ứng phó biến đổi khí hậu đều mở ra không gian rộng lớn để phụ nữ phát huy năng lực chuyên môn và khả năng kết nối cộng đồng.

Để khai thác hiệu quả nguồn lực này, TS. BS. Nguyễn Thị Hương Giang đề xuất xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học Việt Nam gồm 5 trụ cột: Phát hiện và bồi dưỡng tài năng nữ trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược; Thiết kế các quỹ tài trợ có lồng ghép yếu tố bình đẳng giới; Phát triển mạng lưới cố vấn kết nối viện, trường và DN dành cho các nhà khoa học nữ; Hỗ trợ sở hữu trí tuệ, thử nghiệm, định giá và phát triển thị trường; đồng thời xây dựng văn hóa tôn vinh các nhà khoa học nữ và nữ doanh nhân công nghệ.

Nếu được hỗ trợ đúng cách, kết nối đúng mạng lưới và trao cơ hội đúng tầm, các nhà khoa học nữ Việt Nam sẽ không chỉ đóng góp quan trọng vào Chiến lược phát triển KH,CN&ĐMST đến năm 2030, mà còn trở thành lực lượng tiên phong trong kiến tạo kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tri thức và mô hình phát triển nhân văn, bao trùm, bền vững cho Việt Nam”, TS. BS. Nguyễn Thị Hương Giang nhấn mạnh.

Tại Hội thảo, các đại biểu khẳng định rằng việc hỗ trợ các nhà khoa học nữ tiếp cận thị trường không chỉ là vấn đề bình đẳng giới mà còn là yêu cầu cấp thiết để thúc đẩy ĐMST và tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, thúc đẩy CĐS, chuyển đổi xanh và phát triển dựa trên ĐMST, đây không chỉ là thách thức đối với các nhà khoa học nữ mà còn là vấn đề liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh và triển vọng phát triển của quốc gia.

Các kinh nghiệm quốc tế được chia sẻ tại Hội thảo từ các quốc gia như Canada, Phần Lan, Hàn Quốc, Vương quốc Anh, Australia và Colombia cho thấy những hệ sinh thái ĐMST thành công đều có cơ chế kết nối hiệu quả giữa nhà khoa học, trường đại học, DN, nhà đầu tư và cơ quan hoạch định chính sách. Đây cũng là những yếu tố then chốt giúp rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường.

Kết thúc Hội thảo, các đại biểu kêu gọi tăng cường đầu tư vào các chương trình hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu do phụ nữ dẫn dắt; mở rộng cơ hội tiếp cận tài chính, cố vấn và kết nối thị trường; đồng thời xây dựng một hệ sinh thái ĐMST toàn diện và bao trùm hơn, nơi các nhà khoa học nữ có thể phát triển các ý tưởng nghiên cứu thành những giải pháp tạo ra giá trị kinh tế và xã hội cho Việt Nam./.

PT